Friday, September 22, 2017

Tại sao người Do thái Sáng Tạo Hơn người Châu Á người Á Đông ?

Người Do thái Sáng Tạo Hơn người Châu Á người Á Đông ?
Vì sao người Do thái Sáng Tạo Hơn người Á Đông

Vì sao một người Do thái có khả năng để đạt giải Nobel gấp 625 lần hơn một người Châu Á ? Điều đó không liên quan gì đến chỉ số thông minh IQ

Nghiên cứu của tôi cho thấy một người Do thái có khả năng để đạt giải Nobel gấp 625 lần hơn một người Á Đông ?

Vì sao vậy ?
Có liên quan gì đến chỉ số trí tuệ IQ không ?
Có liên quan gì đến cách người Do Thái dạy dỗ trong gia đình ?

Đánh lẽ ra thì các tiêu chuẩn học thuật cao cấp của nền văn hoá Á Đông sẽ tạo ra số lượng lớn hàng loạt các nhà phát minh sáng chế ?

Sự sáng tạo là quá trình tạo ra cái gì đó độc đáo và có ích, và sự thành công của quá trình sáng tạo là sự sáng chế phát minh. Giải Nobel là biểu tượng của thành tựu phát minh sáng chế.

Người Do Thái dân số ít hơn 0.2% tổng dân số nhân loại nhưng có khoảng 23% người chiến thắng giải Nobel. Bao gồm cả người thắng giải Nobel gần đây là Bob Dylan

Ngược lại, người Châu Á người Á Đông chiếm 23% tổng dân số thế giới nhưng chỉ có 4% người Đông Á chiến thắng giải Nobel.

Xét về quy mô dân số, tỷ lệ những người đoạt giải Nobel Kinh tế của người Do Thái là trên 115, nhưng tỷ lệ người Châu Á ít hơn 0,2. Theo thống kê, một người Do Thái có khả năng giành được giải Nobel hơn 625 lần so với người Châu Á.

Thực tế, người Do Thái tỏa sáng tốt trong tất cả các thành tựu sáng tạo.

Ví dụ: dân Do Thái đẻ ra một số nhạc sĩ người Do Thái vĩ đại nhất của thế kỷ 20: hơn 25% nhạc trưởng, 40% nghệ sĩ dương cầm, 50% nghệ sĩ trung hồ cầm cello và 65% nghệ sĩ vĩ cầm violin.
Người Do Thái có đôi mắt màu xanh biển
trẻ em người do thái thiếu nhi người do thái nhi đồng người do thái xếp hàng tàu xe lửa
Nhiều người cho rằng người Do Thái thành công trong lĩnh vực sáng tạo vì họ có chỉ số IQ cao hơn. Nghiên cứu của tôi không ủng hộ khẳng định này.

Ngoài nghiên cứu về lịch sử Do Thái, văn hoá Do Thái và giáo dục Do Thái, tôi đã phỏng vấn và theo dõi người Do Thái và sinh sống cùng gia đình Do Thái trong ba năm.

Tôi đã nghiên cứu các văn bản Do Thái có ảnh hưởng, viếng thăm các nhà thờ và tham dự các buổi lễ Do Thái và ngày lễ Do Thái.

Tôi quyết tâm khám phá các tính năng độc đáo có thể ảnh hưởng đến sự sáng tạo.

Khi tôi bắt đầu nghiên cứu, tôi không biết gì về văn hoá Do Thái.

Sau đó tôi đã học được rằng, nói chung, người Mỹ coi đó là điều cấm kỵ để đánh giá hoặc đưa ra nhận xét về người Do Thái.

Người Mỹ coi đó là điều cấm kỵ để đánh giá hoặc đưa ra nhận xét về người Do Thái

Nhưng vì tôi là người Hàn Quốc, tôi chưa bao giờ biết điều này.

Là một nhà nghiên cứu, sự không quen thuộc của tôi về điều cấm kỵ này đã giúp tôi duy trì tính khách quan của tôi.

Những phát hiện của tôi về sự khác biệt giữa việc dạy dỗ con cái con cháu của người Do Thái và người Á Châu đã gây ra nhiều tranh cãi, và trì hoãn việc xuất bản cuốn sách của tôi, The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation, một vài năm nữa.

Nhiều người cho rằng người Do Thái thành công trong lĩnh vực sáng tạo vì họ có chỉ số IQ cao. Tuy nhiên, nghiên cứu của tôi không ủng hộ khẳng định này. Tôi thấy rằng người Châu Á và người Do Thái có chỉ số IQ tương đương.

Người Châu Á và người Do Thái có chỉ số IQ tương đương

Tôi cũng nhận thấy rằng cả những người sáng tạo thành công lẫn những người ít sáng tạo đều được tạo ra bởi khí hậu của họ. Nghiên cứu sâu rộng của tôi đã kết hợp lại thành một khuôn khổ, mà tôi gọi là CATs.

CATs là ba bước thiết thực cho sự sáng tạo có thể đạt được trong bất kỳ nền văn hoá nào.
Đó là: tu luyện Sáng tạo Khí hậu (bước 1); nuôi dưỡng thái độ sáng tạo (bước 2); và phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo (bước 3).

Đáng ngạc nhiên, phần quan trọng nhất của một quá trình sáng tạo là khí hậu. Các khí hậu của các cá nhân bao gồm văn hoá, điều kiện vật lý và tâm lý, mối quan hệ giữa các cá nhân, quá trình phát triển và những thành kiến ​​đang có. Tất cả các khía cạnh của khí hậu ảnh hưởng sâu sắc đến cách mọi người suy nghĩ và có tiềm năng khuyến khích hoặc làm nản lòng hành vi sáng tạo. May mắn, khí hậu là phần mà chúng ta có thể kiểm soát nhiều nhất.

Trong khuôn khổ CATs, ưu tiên nuôi dạy con cái của người Do Thái là rất hiệu quả trong việc phát triển khí hậu sáng tạo nuôi dưỡng thái độ sáng tạo và kỹ năng tư duy của trẻ.

Người Do Thái nuôi dưỡng khí hậu sáng tạo bằng cách đặt ra những kỳ vọng cao và cung cấp những thách thức cho con cái của họ bao gồm đưa ra nhận xét thẳng thắn với sự rõ ràng và cụ thể.
Để đối phó với các mối đe dọa khủng khiếp mà người Do Thái phải đối mặt, Người Do Thái đã trở nên kiên cường và thể hiện niềm tin rằng "Cái gì không giết chết bạn sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn.

Người Do Thái phát triển thái độ sáng tạo của trẻ như độc lập, tự tin (sự tự tin thực sự là biết được thế mạnh cụ thể của chính bản thân họ), khả năng phục hồi và chấp nhận rủi ro mạo hiểm chơi liều.

Hơn nữa, thay vì tập trung vào bi kịch, người Do Thái đã biến nó thành sự ủng hộ rộng rãi cho công lý xã hội. Thái độ này củng cố tư duy lớn qua lòng nhân ái.

Cha mẹ người Do Thái có xu hướng cung cấp cho trẻ em Do Thái một mô hình để tìm hiểu và đặt câu hỏi để mở rộng sự tò mò hiếu kỳ của trẻ em người Do Thái.
Cha mẹ Do Thái và giáo viên người Do Thái nuôi dưỡng thái độ sáng tạo của trẻ như thái độ cởi mở, tính cộng đồng và sự thông minh, bằng cách cung cấp cho họ nhiều nguồn lực và kinh nghiệm.

Thật không may trong suốt lịch sử, người Do Thái đã buộc phải trốn khỏi nhà cửa và đất nước. Tuy nhiên, điều này cho phép họ tiếp xúc với đa dạng các chủng người, văn hoá, khu vực, ngôn ngữ, tôn giáo, và nghệ thuật khác nhau.

Những kinh nghiệm này đã mở ra những suy nghĩ của người Do Thái với những quan điểm, ý tưởng và cách sống khác, tăng khả năng tư duy sáng tạo.
Một chàng trai trẻ tuổi người do thái mặc quần áo màu đen và áo sơ mi trắng

Trong khi nuôi dưỡng trẻ thơ Do Thái những giá trị bản sắc Do Thái, Phụ huynh Do thái và thầy giáo Do thái nuôi dưỡng bản sắc văn hoá Do Thái bằng cách dạy cho họ về những điểm giống nhau và khác biệt giữa các nền văn hoá trong khi củng cố mong muốn duy trì bản sắc truyền thống Do Thái của họ.

Các cộng đồng người Do Thái đã phát triển các lớp học, hệ thống trường học, và các chuyến đi ngắn hạn và dài hạn đến quê hương của họ ở Israel. Nhận dạng văn hoá cho phép tạo ra nhiều quan điểm, những suy nghĩ phức tạp, và quan điểm của một người ngoài cuộc, giúp nâng cao kỹ năng tư duy sáng tạo.
Một chàng trai người Do Thái người Tóc Đỏ

Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy rằng người Do Thái có khuynh hướng kết hôn muộn hơn so với những người không phải là người Do Thái.

Người Do Thái có nhiều tài chính và tình cảm hơn khi có con cái, giúp họ cung cấp cho con của họ các nguồn lực đa dạng.

Người Do Thái cũng dạy con cái của họ sớm hơn về cách tìm tòi và sử dụng các nguồn như sách vở, nghệ thuật, thư viện, viện bảo tàng và nguồn nhân lực, qua đó nuôi dưỡng sự tháo vát của trẻ em Do Thái.

Cha mẹ người Do Thái / thầy giáo người Do thái nuôi dưỡng thái độ sáng tạo của trẻ như sự tò mò hiếu kỳ, tính lạc quan và ý tưởng lớn bằng cách cung cấp cho thiếu nhi Do Thái nguồn cảm hứng và động viên. Họ có xu hướng cung cấp cho nhi đồng Do Thái một mô hình để tìm hiểu và đặt câu hỏi mở rộng sự tò mò của trẻ em người Do Thái.

Người Do Thái nuôi dưỡng tình yêu của thiếu nhi người Do Thái để đọc sớm và được biết đến như là "Dân tộc của Sách". Hơn nữa, người Do Thái nhấn mạnh Tikkun olam - sửa chữa thế giới - dạy cho con cái của họ để lại cho thế giới một nơi tốt hơn là tìm kiềm điều đó, tạo ra sự rộng lượng như một qui tắc.

Nghiên cứu cho thấy các gia đình Do Thái làm từ thiện nhiều hơn và cho một số tiền lớn hơn các gia đình tôn giáo khác hoặc các gia đình không tôn giáo - bất kể mức thu nhập hay mức độ giàu có của họ.
Nghiên cứu cho thấy các gia đình người Do Thái từ thiện nhìu hơn và cho một số tiền lớn hơn các gia đình đạo khác hoặc các gia đình vô tôn giáo - bất kể mức thu nhập hay mức độ giàu có của họ.

Người Do Thái chiếm ít hơn 2% dân số Mỹ, nhưng họ chiếm 30% số người hiến tủy và hiến các bộ phận cơ thể để làm từ thiện nhiều nhất. Điều này củng cố sự lạc quan cho con trẻ Do Thái, tư duy hình ảnh lớn và lòng vị tha, các yếu tố chủ chốt cho sự đổi mới và sáng tạo.

Cha mẹ dân Do Thái và thầy giáo dân Do Thái có xu hướng nuôi dưỡng cảm xúc, tính tự chủ, vô kỷ luật và tính thích thách thức của trẻ em Do Thái bằng cách cung cấp cho con nít Do Thái sự tự do để được một mình và độc nhất.
Ngâm cứu cho thấy cha mẹ dân tộc Do Thái và thầy giáo dân tộc Do Thái ủng hộ sự tự biểu hiện của trẻ; sự tò mò hiếu kỳ, sở thích và quan tâm của thiếu nhi Do Thái về cách thức và lý do tại sao mọi thứ xảy ra; và lập luận, chứ không phải là sự sạch sẽ, trật tự, quy tắc và cách cư xử tốt.

Cùng với bản sắc văn hoá Do Thái đã nuôi dưỡng sự vô kỷ luật của con cái họ, Người Do Thái đã tự xác định mình là những người kẻ ngoài cuộc không giống ai, những người ủng hộ những người lười biếng người thua cuộc người thất bại và những người đã từng là nạn nhân và đang là nạn nhân.

Nguyên lý Nho Giáo Khổng Giáo Khổng Tử




Trước khi tôi nghiên cứu các phương pháp giảng dạy và dạy dỗ của người Do Thái, tôi đã nghiên cứu Khổng Học Khổng Giáo Khổng Tử Nho Giáo, vốn là chủ đề của luận văn tiến sĩ của tôi.

Các nguyên lý và giá trị Khổng giáo Nho Giáo dựa trên triết lý và ý tưởng của Khổng Tử, tiếp tục là nền tảng đạo đức cho hầu hết các dân tộc người châu Á người Á Đông, người mà tôi gọi là Khổng học trong bài báo này.

Việc dạy dỗ và giáo huấn của Nho giáo theo bốn nguyên tắc cụ thể:

- Nguyên tắc thứ nhất là các mối quan hệ có tính phân cấp, ở đó tuổi tác là một dấu hiệu của trí tuệ và thẩm quyền. Người cao tuổi có quyền thực hiện kỷ luật và kiểm soát những người trẻ hơn để lắng nghe họ.

Vụ tai nạn máy bay phản lực thảm khốc Đại Hàn Dân Quốc năm 1997 đã cho thấy tác động tiêu cực của hệ thống phân cấp này, trong đó một kỹ sư trẻ tuổi không thách thức quyền lực của thuyền trưởng già hơn, dẫn đến 228 người thiệt mạng.


Cha mẹ Khổng giáo và các nhà giáo dục Khổng giáo dạy con mình sử dụng quyền kiểm soát và quyền lực. Họ nuôi dưỡng sự phụ thuộc và vâng phục trong con cái của họ và sự chấp nhận vững chắc của thông tin họ được dạy.


Điều này cản trở sự độc lập, tự chủ, tư duy phê phán, sự vô kỷ luật và tính thách thức của trẻ em, điều này là cần thiết cho kỹ năng tư duy sáng tạo. Nó cũng giới hạn các kỹ năng tư duy sáng tạo bằng cách ngăn ngừa thụ phấn chéo, đó là chia sẻ ý tưởng và / hoặc làm việc với các chuyên gia khác trong một mối quan hệ bình đẳng.

- Nguyên tắc thứ hai là sự siêng năng chăm chỉ và thành công trong học tập. Cha mẹ và các nhà giáo dục Nho giáo dạy rằng thành công trong học tập là quan trọng không chỉ đối với trẻ em mà còn cho danh dự gia đình rộng lớn và thậm chí là cả tổ tiên.


Nguyên tắc này đã gây ra sự cạnh tranh khốc liệt và không lành mạnh ở Trung Quốc, dẫn đến cái gọi là "địa ngục thi cử Châu Á hay địa ngục thi cử Á Đông từ những năm 1970, dẫn đến tỷ lệ tự tử cao ở các sinh viên Châu Á sinh viên Á Đông.

Cha mẹ Khổng học và nhà giáo dục Khổng học mang giá trị cao nhất đối với công việc học tập, đó là thực hành chuyên sâu, bài tập về nhà nhiều, và kết quả; họ không đánh giá sự vui chơi của trẻ em, tính mơ mộng, hoặc sự tò mò hiếu kỳ, sở thích và sự hứng thú của trẻ em. Điều này cản trở sự phát triển của trẻ em về tính tò mò hiếu kỳ, tự nhiên và sáng tạo.


Nhìn chung, việc nuôi dạy con cái kiểu Nho giáo Khổng Giáo Khổng Tử Khổng Học dẫn đến thiếu sự tự thể hiện bản thận và tính sáng tạo.

- Nguyên tắc thứ ba là lòng hiếu thảo (cha mẹ yêu cầu không cần đặt câu hỏi) và lòng trung thành. Cha mẹ Khổng học rất quan tâm và hy sinh rất nhiều cho thành công học vấn của con mình. Đổi lại, con cái của họ tìm cách trở nên giàu có và đạt được vị thế xã hội cao để họ có thể trả nợ cho cha mẹ của mình cho những hy sinh mà cha mẹ đã làm cho bản thân họ, mà không có chỗ cho hoạt động từ thiện.

Là sự mở rộng lòng đạo hiếu, lòng trung thành trong công việc đã góp phần vào sự thành công về kinh tế của các quốc gia châu Á quốc gia Á Đông trong những năm 1980.

Tuy nhiên, điều đó dẫn các nhà Khổng học chấp nhận quyền lực không câu hỏi và từ chối ý tưởng khác biệt với cả nhóm vì lòng trung thành với nhóm nội bộ của họ.

Cha mẹ Nho giáo dạy con cái mình phải làm việc chăm chỉ hơn và phải giỏi hơn những người bạn cùng trang lứa. Họ công khai so sánh con cái của họ với con cái của người khác, điều này giúp thúc đẩy sự phân chia tạo ra đội nhóm của những kẻ thất bại và những người thành công.


Thái độ này làm giảm đi sự suy nghĩ, tư duy lớn của con cái, sự từ bi, và sự thụ phấn chéo, là những yếu tố chính cho kỹ năng tư duy sáng tạo.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tính cạnh tranh cực đoan đã dẫn đến sự phổ biến của sinh viên châu Á về đạo văn và thiếu ý tưởng ban đầu. Họ càng cảm thấy nghĩa vụ hiếu học hơn, họ càng sẵn sàng lừa dối hoặc đạt được mục tiêu bằng bất cứ cách nào cần thiết.

- Nguyên tắc cuối cùng là hài hòa và phù hợp. Cha mẹ và nhà giáo dục Nho giáo dạy con cái mình phải khiêm tốn và không hành động khác biệt với những người khác.

Điều này có thể làm giảm sự tự tin và cảm giác cá nhân và sự độc đáo của trẻ em.

Họ nhấn mạnh quá mức các mối quan hệ hài hòa và tránh xung đột, tránh sự bất đồng và né tránh mâu thuẫn.


Trẻ em Á châu trẻ em Á Đông rất quan tâm đến quan điểm của người khác. Chính thức và nghiêm túc được khuyến khích, trong khi vui tươi và hài hước thì không. Vì vậy, sự vui tươi, vô kỷ luật, và tính thách thức của họ bị chà đạp, mà điều này lại vốn cần thiết để phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo.

Mặc dù có một số điểm giống nhau giữa việc nuôi dạy trẻ em của người Do Thái và dạy dỗ con cái của Nho giáo Khổng giáo Khổng Tử Khổng học,
nói chung, việc dạy dỗ con cái của người Do Thái dẫn đến sự đổi mới, trong khi đó sự nuôi dạy con cái của Nho giáo dẫn đến thiếu sự tự thể hiện bản thân và tính sáng tạo.

Kết quả là trẻ em châu Á trẻ em Đông Á thường giống như người "bonsais". Bonsai là một cây có hình dáng trang trí được cắt tỉa và nắn hình dạng bằng dây để nó không thể phát triển tất cả tiềm năng của nó.

Mọi người đều sinh ra tò mò hiếu kỳ và sáng tạo, nhưng khí hậu hoặc môi trường nuôi dưỡng đè nén sự sáng tạo của họ. Khám phá cách mọi người có thể tu luyện khí hậu sáng tạo, nuôi dưỡng thái độ sáng tạo và áp dụng các kỹ năng tư duy sáng tạo để đạt được sự đổi mới trong The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation

Bài báo này trích dẫn từ The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation, đó là tổng hợp các kết quả nghiên cứu. Tất cả các nguồn được tìm thấy trong cuốn sách.

Tiến sĩ Kim là giáo sư đạt được giải thưởng đổi mới và sáng tạo của trường đại học William & Mary. Nghiên cứu của cô "Khủng hoảng sáng tạo" là chủ đề của một câu chuyện trên bìa báo Newsweek 2010. Nhiều tạp chí tin tức đã tìm kiếm chuyên môn của bà bao gồm Washington Post, Tạp chí Phố Wall, Báo cáo Thế giới & Báo chí Hoa Kỳ, NPR và các trang khác. Bài viết gây tranh cãi này là trích đoạn từ The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation đó là tổng hợp các kết quả nghiên cứu. Tất cả nguồn đều được tìm thấy trong cuốn sách của cô.

Dịch từ aish.com/jw/s/Are-Jews-More-Creative-than-Asians.html

Thursday, September 21, 2017

Người Do thái Sáng Tạo Hơn người Châu Á người Á Đông ?

Người Do thái Sáng Tạo Hơn người Châu Á người Á Đông ?

Vì sao người Do thái Sáng Tạo Hơn người Á Đông

Người Do thái Sáng Tạo Hơn người Châu Á người Á Đông ?

Vì sao người Do thái Sáng Tạo Hơn người Á Đông

Vì sao một người Do thái có khả năng để đạt giải Nobel gấp 625 lần hơn một người Châu Á ? Điều đó không liên quan gì đến chỉ số thông minh IQ

Nghiên cứu của tôi cho thấy một người Do thái có khả năng để đạt giải Nobel gấp 625 lần hơn một người Á Đông ?

Vì sao vậy ?
Có liên quan gì đến chỉ số trí tuệ IQ không ?
Có liên quan gì đến cách người Do Thái dạy dỗ trong gia đình ?

Đánh lẽ ra thì các tiêu chuẩn học thuật cao cấp của nền văn hoá Á Đông sẽ tạo ra số lượng lớn hàng loạt các nhà phát minh sáng chế ?

Sự sáng tạo là quá trình tạo ra cái gì đó độc đáo và có ích, và sự thành công của quá trình sáng tạo là sự sáng chế phát minh. Giải Nobel là biểu tượng của thành tựu phát minh sáng chế.

Người Do Thái dân số ít hơn 0.2% tổng dân số nhân loại nhưng có khoảng 23% người chiến thắng giải Nobel. Bao gồm cả người thắng giải Nobel gần đây là Bob Dylan

Ngược lại, người Châu Á người Á Đông chiếm 23% tổng dân số thế giới nhưng chỉ có 4% người Đông Á chiến thắng giải Nobel.

Xét về quy mô dân số, tỷ lệ những người đoạt giải Nobel Kinh tế của người Do Thái là trên 115, nhưng tỷ lệ người Châu Á ít hơn 0,2. Theo thống kê, một người Do Thái có khả năng giành được giải Nobel hơn 625 lần so với người Châu Á.

Thực tế, người Do Thái tỏa sáng tốt trong tất cả các thành tựu sáng tạo.
Ví dụ: dân Do Thái đẻ ra một số nhạc sĩ người Do Thái vĩ đại nhất của thế kỷ 20: hơn 25% nhạc trưởng, 40% nghệ sĩ dương cầm, 50% nghệ sĩ trung hồ cầm cello và 65% nghệ sĩ vĩ cầm violin.

Nhiều người cho rằng người Do Thái thành công trong lĩnh vực sáng tạo vì họ có chỉ số IQ cao hơn. Nghiên cứu của tôi không ủng hộ khẳng định này.

Ngoài nghiên cứu về lịch sử Do Thái, văn hoá Do Thái và giáo dục Do Thái, tôi đã phỏng vấn và theo dõi người Do Thái và sinh sống cùng gia đình Do Thái trong ba năm.

Tôi đã nghiên cứu các văn bản Do Thái có ảnh hưởng, viếng thăm các nhà thờ và tham dự các buổi lễ Do Thái và ngày lễ Do Thái.

Tôi quyết tâm khám phá các tính năng độc đáo có thể ảnh hưởng đến sự sáng tạo.

Khi tôi bắt đầu nghiên cứu, tôi không biết gì về văn hoá Do Thái.

Sau đó tôi đã học được rằng, nói chung, người Mỹ coi đó là điều cấm kỵ để đánh giá hoặc đưa ra nhận xét về người Do Thái.

Người Mỹ coi đó là điều cấm kỵ để đánh giá hoặc đưa ra nhận xét về người Do Thái

Nhưng vì tôi là người Hàn Quốc, tôi chưa bao giờ biết điều này.

Là một nhà nghiên cứu, sự không quen thuộc của tôi về điều cấm kỵ này đã giúp tôi duy trì tính khách quan của tôi.

Những phát hiện của tôi về sự khác biệt giữa việc dạy dỗ con cái con cháu của người Do Thái và người Á Châu đã gây ra nhiều tranh cãi, và trì hoãn việc xuất bản cuốn sách của tôi, The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation, một vài năm nữa.

Nhiều người cho rằng người Do Thái thành công trong lĩnh vực sáng tạo vì họ có chỉ số IQ cao. Tuy nhiên, nghiên cứu của tôi không ủng hộ khẳng định này. Tôi thấy rằng người Châu Á và người Do Thái có chỉ số IQ tương đương.

Người Châu Á và người Do Thái có chỉ số IQ tương đương

Tôi cũng nhận thấy rằng cả những người sáng tạo thành công lẫn những người ít sáng tạo đều được tạo ra bởi khí hậu của họ. Nghiên cứu sâu rộng của tôi đã kết hợp lại thành một khuôn khổ, mà tôi gọi là CATs.

CATs là ba bước thiết thực cho sự sáng tạo có thể đạt được trong bất kỳ nền văn hoá nào.
Đó là: tu luyện Sáng tạo Khí hậu (bước 1); nuôi dưỡng thái độ sáng tạo (bước 2); và phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo (bước 3).

Đáng ngạc nhiên, phần quan trọng nhất của một quá trình sáng tạo là khí hậu. Các khí hậu của các cá nhân bao gồm văn hoá, điều kiện vật lý và tâm lý, mối quan hệ giữa các cá nhân, quá trình phát triển và những thành kiến ​​đang có. Tất cả các khía cạnh của khí hậu ảnh hưởng sâu sắc đến cách mọi người suy nghĩ và có tiềm năng khuyến khích hoặc làm nản lòng hành vi sáng tạo. May mắn, khí hậu là phần mà chúng ta có thể kiểm soát nhiều nhất.

Trong khuôn khổ CATs, ưu tiên nuôi dạy con cái của người Do Thái là rất hiệu quả trong việc phát triển khí hậu sáng tạo nuôi dưỡng thái độ sáng tạo và kỹ năng tư duy của trẻ.

Người Do Thái nuôi dưỡng khí hậu sáng tạo bằng cách đặt ra những kỳ vọng cao và cung cấp những thách thức cho con cái của họ bao gồm đưa ra nhận xét thẳng thắn với sự rõ ràng và cụ thể.

Để đối phó với các mối đe dọa khủng khiếp mà người Do Thái phải đối mặt, Người Do Thái đã trở nên kiên cường và thể hiện niềm tin rằng "Cái gì không giết chết bạn sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn.

Người Do Thái phát triển thái độ sáng tạo của trẻ như độc lập, tự tin (sự tự tin thực sự là biết được thế mạnh cụ thể của chính bản thân họ), khả năng phục hồi và chấp nhận rủi ro mạo hiểm chơi liều.

Hơn nữa, thay vì tập trung vào bi kịch, người Do Thái đã biến nó thành sự ủng hộ rộng rãi cho công lý xã hội. Thái độ này củng cố tư duy lớn qua lòng nhân ái.

Cha mẹ người Do Thái có xu hướng cung cấp cho trẻ em Do Thái một mô hình để tìm hiểu và đặt câu hỏi để mở rộng sự tò mò hiếu kỳ của trẻ em người Do Thái.

Cha mẹ Do Thái và giáo viên người Do Thái nuôi dưỡng thái độ sáng tạo của trẻ như thái độ cởi mở, tính cộng đồng và sự thông minh, bằng cách cung cấp cho họ nhiều nguồn lực và kinh nghiệm.

Thật không may trong suốt lịch sử, người Do Thái đã buộc phải trốn khỏi nhà cửa và đất nước. Tuy nhiên, điều này cho phép họ tiếp xúc với đa dạng các chủng người, văn hoá, khu vực, ngôn ngữ, tôn giáo, và nghệ thuật khác nhau.

Những kinh nghiệm này đã mở ra những suy nghĩ của người Do Thái với những quan điểm, ý tưởng và cách sống khác, tăng khả năng tư duy sáng tạo.

Trong khi nuôi dưỡng trẻ thơ Do Thái những giá trị bản sắc Do Thái, Phụ huynh Do thái và thầy giáo Do thái nuôi dưỡng bản sắc văn hoá Do Thái bằng cách dạy cho họ về những điểm giống nhau và khác biệt giữa các nền văn hoá trong khi củng cố mong muốn duy trì bản sắc truyền thống Do Thái của họ.

Các cộng đồng người Do Thái đã phát triển các lớp học, hệ thống trường học, và các chuyến đi ngắn hạn và dài hạn đến quê hương của họ ở Israel. Nhận dạng văn hoá cho phép tạo ra nhiều quan điểm, những suy nghĩ phức tạp, và quan điểm của một người ngoài cuộc, giúp nâng cao kỹ năng tư duy sáng tạo.

Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy rằng người Do Thái có khuynh hướng kết hôn muộn hơn so với những người không phải là người Do Thái.

Người Do Thái có nhiều tài chính và tình cảm hơn khi có con cái, giúp họ cung cấp cho con của họ các nguồn lực đa dạng.

Người Do Thái cũng dạy con cái của họ sớm hơn về cách tìm tòi và sử dụng các nguồn như sách vở, nghệ thuật, thư viện, viện bảo tàng và nguồn nhân lực, qua đó nuôi dưỡng sự tháo vát của trẻ em Do Thái.

Cha mẹ người Do Thái / thầy giáo người Do thái nuôi dưỡng thái độ sáng tạo của trẻ như sự tò mò hiếu kỳ, tính lạc quan và ý tưởng lớn bằng cách cung cấp cho thiếu nhi Do Thái nguồn cảm hứng và động viên. Họ có xu hướng cung cấp cho nhi đồng Do Thái một mô hình để tìm hiểu và đặt câu hỏi mở rộng sự tò mò của trẻ em người Do Thái.

Người Do Thái nuôi dưỡng tình yêu của thiếu nhi người Do Thái để đọc sớm và được biết đến như là "Dân tộc của Sách". Hơn nữa, người Do Thái nhấn mạnh Tikkun olam - sửa chữa thế giới - dạy cho con cái của họ để lại cho thế giới một nơi tốt hơn là tìm kiềm điều đó, tạo ra sự rộng lượng như một qui tắc.

Nghiên cứu cho thấy các gia đình Do Thái làm từ thiện nhiều hơn và cho một số tiền lớn hơn các gia đình tôn giáo khác hoặc các gia đình không tôn giáo - bất kể mức thu nhập hay mức độ giàu có của họ.

Nghiên cứu cho thấy các gia đình người Do Thái từ thiện nhìu hơn và cho một số tiền lớn hơn các gia đình đạo khác hoặc các gia đình vô tôn giáo - bất kể mức thu nhập hay mức độ giàu có của họ.

Người Do Thái chiếm ít hơn 2% dân số Mỹ, nhưng họ chiếm 30% số người hiến tủy và hiến các bộ phận cơ thể để làm từ thiện nhiều nhất. Điều này củng cố sự lạc quan cho con trẻ Do Thái, tư duy hình ảnh lớn và lòng vị tha, các yếu tố chủ chốt cho sự đổi mới và sáng tạo.

Cha mẹ dân Do Thái và thầy giáo dân Do Thái có xu hướng nuôi dưỡng cảm xúc, tính tự chủ, vô kỷ luật và tính thích thách thức của trẻ em Do Thái bằng cách cung cấp cho con nít Do Thái sự tự do để được một mình và độc nhất.

Ngâm cứu cho thấy cha mẹ dân tộc Do Thái và thầy giáo dân tộc Do Thái ủng hộ sự tự biểu hiện của trẻ; sự tò mò hiếu kỳ, sở thích và quan tâm của thiếu nhi Do Thái về cách thức và lý do tại sao mọi thứ xảy ra; và lập luận, chứ không phải là sự sạch sẽ, trật tự, quy tắc và cách cư xử tốt.

Cùng với bản sắc văn hoá Do Thái đã nuôi dưỡng sự vô kỷ luật của con cái họ, Người Do Thái đã tự xác định mình là những người kẻ ngoài cuộc không giống ai, những người ủng hộ những người lười biếng người thua cuộc người thất bại và những người đã từng là nạn nhân và đang là nạn nhân.

Nguyên lý Nho Giáo Khổng Giáo Khổng Tử

Trước khi tôi nghiên cứu các phương pháp giảng dạy và dạy dỗ của người Do Thái, tôi đã nghiên cứu Khổng Học Khổng Giáo Khổng Tử Nho Giáo, vốn là chủ đề của luận văn tiến sĩ của tôi.
Các nguyên lý và giá trị Khổng giáo Nho Giáo dựa trên triết lý và ý tưởng của Khổng Tử, tiếp tục là nền tảng đạo đức cho hầu hết các dân tộc người châu Á người Á Đông, người mà tôi gọi là Khổng học trong bài báo này. Việc dạy dỗ và giáo huấn của Nho giáo theo bốn nguyên tắc cụ thể.

- Nguyên tắc thứ nhất là các mối quan hệ có tính phân cấp, ở đó tuổi tác là một dấu hiệu của trí tuệ và thẩm quyền. Người cao tuổi có quyền thực hiện kỷ luật và kiểm soát những người trẻ hơn để lắng nghe họ.

Vụ tai nạn máy bay phản lực thảm khốc Đại Hàn Dân Quốc năm 1997 đã cho thấy tác động tiêu cực của hệ thống phân cấp này, trong đó một kỹ sư trẻ tuổi không thách thức quyền lực của thuyền trưởng già hơn, dẫn đến 228 người thiệt mạng.

Cha mẹ Khổng giáo và các nhà giáo dục Khổng giáo dạy con mình sử dụng quyền kiểm soát và quyền lực. Họ nuôi dưỡng sự phụ thuộc và vâng phục trong con cái của họ và sự chấp nhận vững chắc của thông tin họ được dạy.

Điều này cản trở sự độc lập, tự chủ, tư duy phê phán, sự vô kỷ luật và tính thách thức của trẻ em, điều này là cần thiết cho kỹ năng tư duy sáng tạo. Nó cũng giới hạn các kỹ năng tư duy sáng tạo bằng cách ngăn ngừa thụ phấn chéo, đó là chia sẻ ý tưởng và / hoặc làm việc với các chuyên gia khác trong một mối quan hệ bình đẳng.

- Nguyên tắc thứ hai là sự siêng năng chăm chỉ và thành công trong học tập. Cha mẹ và các nhà giáo dục Nho giáo dạy rằng thành công trong học tập là quan trọng không chỉ đối với trẻ em mà còn cho danh dự gia đình rộng lớn và thậm chí là cả tổ tiên.

Nguyên tắc này đã gây ra sự cạnh tranh khốc liệt và không lành mạnh ở Trung Quốc, dẫn đến cái gọi là "địa ngục thi cử Châu Á hay địa ngục thi cử Á Đông từ những năm 1970, dẫn đến tỷ lệ tự tử cao ở các sinh viên Châu Á sinh viên Á Đông.

Cha mẹ Khổng học và nhà giáo dục Khổng học mang giá trị cao nhất đối với công việc học tập, đó là thực hành chuyên sâu, bài tập về nhà nhiều, và kết quả; họ không đánh giá sự vui chơi của trẻ em, tính mơ mộng, hoặc sự tò mò hiếu kỳ, sở thích và sự hứng thú của trẻ em. Điều này cản trở sự phát triển của trẻ em về tính tò mò hiếu kỳ, tự nhiên và sáng tạo.

Nhìn chung, việc nuôi dạy con cái kiểu Nho giáo Khổng Giáo Khổng Tử Khổng Học dẫn đến thiếu sự tự thể hiện bản thận và tính sáng tạo.

- Nguyên tắc thứ ba là lòng hiếu thảo (cha mẹ yêu cầu không cần đặt câu hỏi) và lòng trung thành. Cha mẹ Khổng học rất quan tâm và hy sinh rất nhiều cho thành công học vấn của con mình. Đổi lại, con cái của họ tìm cách trở nên giàu có và đạt được vị thế xã hội cao để họ có thể trả nợ cho cha mẹ của mình cho những hy sinh mà cha mẹ đã làm cho bản thân họ, mà không có chỗ cho hoạt động từ thiện.

Là sự mở rộng lòng đạo hiếu, lòng trung thành trong công việc đã góp phần vào sự thành công về kinh tế của các quốc gia châu Á quốc gia Á Đông trong những năm 1980.

Tuy nhiên, điều đó dẫn các nhà Khổng học chấp nhận quyền lực không câu hỏi và từ chối ý tưởng khác biệt với cả nhóm vì lòng trung thành với nhóm nội bộ của họ.

Cha mẹ Nho giáo dạy con cái mình phải làm việc chăm chỉ hơn và phải giỏi hơn những người bạn cùng trang lứa. Họ công khai so sánh con cái của họ với con cái của người khác, điều này giúp thúc đẩy sự phân chia tạo ra đội nhóm của những kẻ thất bại và những người thành công.

Thái độ này làm giảm đi sự suy nghĩ, tư duy lớn của con cái, sự từ bi, và sự thụ phấn chéo, là những yếu tố chính cho kỹ năng tư duy sáng tạo.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tính cạnh tranh cực đoan đã dẫn đến sự phổ biến của sinh viên châu Á về đạo văn và thiếu ý tưởng ban đầu. Họ càng cảm thấy nghĩa vụ hiếu học hơn, họ càng sẵn sàng lừa dối hoặc đạt được mục tiêu bằng bất cứ cách nào cần thiết.

- Nguyên tắc cuối cùng là hài hòa và phù hợp. Cha mẹ và nhà giáo dục Nho giáo dạy con cái mình phải khiêm tốn và không hành động khác biệt với những người khác.

Điều này có thể làm giảm sự tự tin và cảm giác cá nhân và sự độc đáo của trẻ em.

Họ nhấn mạnh quá mức các mối quan hệ hài hòa và tránh xung đột, tránh sự bất đồng và né tránh mâu thuẫn.

Trẻ em Á châu trẻ em Á Đông rất quan tâm đến quan điểm của người khác. Chính thức và nghiêm túc được khuyến khích, trong khi vui tươi và hài hước thì không. Vì vậy, sự vui tươi, vô kỷ luật, và tính thách thức của họ bị chà đạp, mà điều này lại vốn cần thiết để phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo.

Mặc dù có một số điểm giống nhau giữa việc nuôi dạy trẻ em của người Do Thái và dạy dỗ con cái của Nho giáo Khổng giáo Khổng Tử Khổng học,

nói chung, việc dạy dỗ con cái của người Do Thái dẫn đến sự đổi mới, trong khi đó sự nuôi dạy con cái của Nho giáo dẫn đến thiếu sự tự thể hiện bản thân và tính sáng tạo.

Kết quả là trẻ em châu Á trẻ em Đông Á thường giống như người "bonsais". Bonsai là một cây có hình dáng trang trí được cắt tỉa và nắn hình dạng bằng dây để nó không thể phát triển tất cả tiềm năng của nó.

Mọi người đều sinh ra tò mò hiếu kỳ và sáng tạo, nhưng khí hậu hoặc môi trường nuôi dưỡng đè nén sự sáng tạo của họ. Khám phá cách mọi người có thể tu luyện khí hậu sáng tạo, nuôi dưỡng thái độ sáng tạo và áp dụng các kỹ năng tư duy sáng tạo để đạt được sự đổi mới trong The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation

Bài báo này trích dẫn từ The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation, đó là tổng hợp các kết quả nghiên cứu. Tất cả các nguồn được tìm thấy trong cuốn sách.

Tiến sĩ Kim là giáo sư đạt được giải thưởng đổi mới và sáng tạo của trường đại học William & Mary. Nghiên cứu của cô "Khủng hoảng sáng tạo" là chủ đề của một câu chuyện trên bìa báo Newsweek 2010. Nhiều tạp chí tin tức đã tìm kiếm chuyên môn của bà bao gồm Washington Post, Tạp chí Phố Wall, Báo cáo Thế giới & Báo chí Hoa Kỳ, NPR và các trang khác. Bài viết gây tranh cãi này là trích đoạn từ The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation đó là tổng hợp các kết quả nghiên cứu. Tất cả nguồn đều được tìm thấy trong cuốn sách của cô.

Dịch từ aish.com/jw/s/Are-Jews-More-Creative-than-Asians.html

Tuesday, September 5, 2017

Viếng Thăm Bệnh Nhân Người Do Thái

Trong xã hội Israel xưa kia việc thăm viếng các bệnh nhân đã được coi như là một bổn phận diễn tả tình yêu và lòng thương xót, không phải chỉ để an ủi khích lệ người đau yếu, mà cũng là để cùng cầu nguyện với họ và cho họ được lành bệnh và được ơn tha thứ tội lỗi nữa - Trích (Thần Học Kinh Thánh bài 1137) Linh Tiến Khải
✡️ Truyền thống đọc kinh cầu nguyện cho bệnh nhân

Đọc kinh cầu nguyện cho bệnh nhân là một truyền thống cổ xưa đậm đà bản sắc dân tộc của người Do Thái. Những kinh cầu nguyện truyền thống đọc cho người bệnh là Mi Shebeirach và Psalm 119.
✡️ Kinh cầu nguyện cho bệnh nhân Tiếng Việt Mi Shebeirach / Mi Sheberach / Mi Sheberakh / Mi Shebeirakh

Xin Đấng đã ban phước cho tổ tiên chúng con —

Tổ phụ Abraham, Isaac, và Jacob,

Tổ mẫu Sarah, Rebecca, Rachel, và Leah —

ban phúc và chữa lành bệnh nhân:

________________ con trai/con gái của ________________ .

Xin Đấng thánh thiện duy nhất

tràn ngập lòng thương xót lên anh / chị / ông / bà / em / bé,

để phục hồi anh / chị / ông / bà / em / bé

để chữa lành anh / chị / ông / bà / em / bé

thêm sức mạnh anh / chị / ông / bà / em / bé

làm sống động anh / chị / ông / bà / em / bé.

Đấng sẽ gửi anh / chị / ông / bà / em / bé, mau chóng,

một sự chữa lành hoàn toàn —

chữa lành linh hồn và chữa lành thể xác —

cùng với tất cả các căn bệnh,

cùng với dân tộc Israel và toàn thể nhân loại,

sớm,

nhanh chóng,

không chậm trễ,

và tất cả chúng ta hãy cùng nói: Amen!
✡️ Kinh cầu nguyện cho người bệnh tiếng Anh

May the One who blessed our ancestors —

Patriarchs Abraham, Isaac, and Jacob,

Matriarchs Sarah, Rebecca, Rachel, and Leah —

bless and heal the one who is ill:

________________ son/daughter of ________________ .

May the Holy Blessed One

overflow with compassion upon him/her,

to restore him/her,

to heal him/her,

to strengthen him/her,

to enliven him/her.

The One will send him/her, speedily,

a complete healing —

healing of the soul and healing of the body —

along with all the ill,

among the people of Israel and all humankind,

soon,

speedily,

without delay,

and let us all say: Amen!

✡️ Kinh cầu nguyện cho người bệnh Phiên Dịch

Mi Sheberakh

Avoteinu: Avraham, Yitzhak, v’Yaakov,

v’Imoteinu: Sarah, Rivka, Rachel v’Leah,

Hu yivarekh virapei

et haholeh/haholah _____________ ben/bat ______________

HaKadosh Barukh Hu

yimalei rahamim alav/aleha,

l’hahalimo/l’hahlimah,

u-l’rap’oto/u-l’rap’otah,

l’hahaziko/l’hazikah,

u-l’hay-oto/u-l’hay-otah.

V’yishlah lo/lah bim-hera

r’fuah shlemah,

r’fu-at hanefesh u-r’fu-at hagoof,

b’tokh sh’ar holei Yisrael v’holei yoshvei tevel,

hashta ba’agalah u-vizman kariv,

v’no-mar, Amen!

✡️ Viếng thăm bệnh nhân là một điều răn.

Điều răn này xuất hiện khi Thiên Chúa viếng thăm Abraham sau khi Abraham đã cắt bao quy đầu hay cắt bì.
🕎 Genesis 17:26-27 Abraham và con trai Ishmael chịu cắt bì trong cùng một ngày, cùng với tất cả các người nam trong nhà, gồm các trai sinh ra trong nhà ông và các trai ông mua về từ người ngoài.

🕎 Genesis 18:1 Sau đó CHÚA lại hiện ra cùng Abraham gần các cây sồi lớn tại Mamre khi ông đang ngồi nơi cửa lều mình lúc trời đang nắng gắt.

Sunday, September 3, 2017

Tên Họ người Do Thái

Ý nghĩa Tên Họ người Do Thái và Cách Đặt Tên Họ Kiểu Do Thái


✡ Thực chất người Do thái KHÔNG có tên họ

Người Do Thái Ashkenazi là những người Châu Âu lấy tên họ trễ nhất. Dân do thái nói tiếng Đức thì lấy tên họ sớm hơn vào thế kỷ 17. Người do thái Đông Âu thì không lấy tên họ cho đến khi bị bắt buộc phải làm như vậy. Giai đoạn này bắt đầu ở Đế quốc Áo-Hung năm 1787 và kết thúc ở Đế quốc Nga năm 1844.

Để xây dựng quốc gia hiện đại, chính quyền ra lệnh người Do Thái phải lấy tên họ để dễ dàng trong việc thu thuế, soạn thảo và giáo dục. Trong nhiều thế kỷ, các nhà lãnh đạo cộng đồng Do Thái có trách nhiệm thu thuế từ dân Do Thái thay mặt cho chính phủ và trong một số trường hợp có trách nhiệm điền vào hạn ngạch dự thảo. Giáo dục truyền thống là vấn đề nội các Do Thái.

Cho đến giai đoạn này thì...

✡ Người do thái Đổi Tên Họ sau mỗi thế hệ

Dân do thái Đổi Tên Họ sau mỗi thế hệ, Ví dụ: nếu Moses con trai của Mendel (Moyshe ben Mendel) kết hôn với Sarah con gái của Rebecca (Sora bas Rifke), nếu sinh bé trai đặt tên là Samuel (Shmuel), bé trai đó sẽ được gọi là Shmuel ben Moyshe. Nếu sinh con gái đặt tên là Feygele, bé gái đó sẽ được gọi là Feygele bas Sora.

Người Do Thái không tin tưởng chính phủ và chống lại yêu cầu mới. Mặc dù họ buộc phải lấy tên họ, lúc đầu họ chỉ sử dụng cho các mục đích giấy tờ. Trong cộng đồng, họ vẫn giữ tên truyền thống. Theo thời gian, người Do Thái chấp nhận những cái tên họ mới, đó là điều bắt buộc khi người Do Thái tìm cách tiến thân trong xã hội rộng lớn hơn và khi những ngôi làng nhỏ đã thay đổi hoặc người Do Thái bỏ những ngôi làng để ra các thành phố lớn sinh sống.

✡ Những cách đặt tên họ của người Do Thái

🕎 Lấy tên Cha làm tên họ

Trong tiếng Yiddish và tiếng Đức, "con trai" sẽ là son, sohn, er. Trong ngôn ngữ Slavic như là tiếng Ba Lan và tiếng Nga, "con trai" sẽ là wich, witz.


Ví dụ: Con trai của Mendel lấy tên họ là Mendelsohn
Con trai của Abraham lấy tên họ là Abramson hay Avromovitch
Con trai của Menashe lấy tên họ là Manishewitz
Con trai của Itzhak lấy tên họ là Itskowitz
Con trai của Berl lấy tên họ là Berliner
Con trai của Kesl lấy tên họ là Kessler

🕎 Lấy tên Mẹ hay tên Vợ tên của Bà Xã làm tên họ

Chaiken - con trai của Chaikeh;
Edelman - ông xã của Edel
Gittelman - chồng của Gitl
Perlman - ông xã của Perl

✡ Lấy tên Địa Danh làm tên họ

Tên họ lấy từ vị trị Địa Lý là tên họ phổ biến nhất của người Do Thái. Dân do thái lấy tên từ những thị trấn và vùng miền nơi họ đã từng sinh sống, hoặc nơi mà gia đình họ đến từ, làm tên họ. Vì vậy, nguồn gốc Đức của người Do Thái Đông Âu được phản ánh trong tên của họ.


Ví dụ: Asch là một từ viết tắt cho các thị trấn của Aisenshtadt, Altshul, Amshterdam.
- Berger (dân tỉnh lỵ, dân thôn ấp, dân thị trấn, dân thành thị, dân thành phố)
- Berg (nhân), có nghĩa là đến từ vùng đồi núi
- Dorf (nhân), có nghĩa là dân làng
- Bayer - đến từ Bavaria
- Berliner, Berlinsky - đến từ Berlin
- Bloch (người nước ngoài)
- Deutch/Deutscher - người Đức
- Frankel - đến từ vùng Franconia nước Đức
- Halperin - đến từ Helbronn quốc gia Đức
- Heller - đến từ Halle đất nước Đức
- Lipsky - đến từ Leipzig xứ Đức
- Posner - đến từ Posen xứ sở Đức
- Rothenberg - từ thành phố pháo đài đỏ ở Đức
- Shapiro - từ Speyer tại Đức
- Schlesinger - từ Silesia nơi Đức

✡ Lấy tên Nghề Nghiệp làm tên họ

🕎 Thợ thủ công

- Nagler thợ làm móng
- Kunstler nghệ sĩ
- Spielman dân chơi
- Farber họa sĩ hay thợ nhuộm
- Schmidt/Kovalsky thợ rèn
- Forman tài xế / người đánh xe ngựa / người lái xe
- Ackerman thợ cày cấy
- Baker/Boker thợ làm bánh ngọt
- Blecher thợ thiếc
- Fleisher/Fleishman/Katzoff/Metger người bán thịt
- Cooperman thợ làm đồng
- Drucker thợ in ấn
- Einstein thợ xây
- Feinstein thợ kim hoàn
- Goldstein thợ vàng
- Silverstein thợ bạc
- Stein/Steiner/Stone thợ hoàn kim
- Fisher ngư dân
- Garber/Gerber thợ thuộc da
- Glazer/Glass/Sklar thợ làm kiếng
- Plotnick thợ mộc
- Kastner thợ mộc đóng tủ
- Kramer người coi kho
- Sandler/Shuster thợ đóng giày
- Wasserman thợ gánh nước
🕎 Con buôn trọc phú

- Zucker/Zuckerman bán đường ( đường ngọt, đường mía )
- Salzman bán muối
- Garfinkel/Garfunkel bán kim cương
- Holzman/Holtz/Waldman bán gỗ
- Rokeach bán gia vị
- Seid/Seidman bán vải vóc
- Tuchman bán quần áo
- Wachsman bán sáp
- Wechsler/Halphan người đổi tiền
- Wollman bán len

🕎 Liên quan đến công việc may quần áo


- Kravitz/Portnoy/Schneider/Snyder thợ may
- Nadelman/Nudelman cây kim
- Sher/Sherman cây kéo
- Presser/Pressman máy ép quần áo
- Futterman/Kirshner/Kushner/Peltz người làm da thú người bán da thú
- Weber thợ dệt vải

🕎 Y khoa y tế

- Aptheker dược sĩ
- Feldsher bác sĩ phẫu thuật
- Bader/Teller thợ hớt tóc thợ cắt tóc

🕎 Liên quan đến rượu bia
- Bronfman/Brand/Brandler/Brenner thợ cất rượu
- Braverman/Meltzer thợ làm bia
- Kabakoff/Krieger/Vigoda người trông nom quán rượu
- Geffen/Wine/Weinglass thương gia rượu vang
- Weiner thợ làm rượu vang

✡ Tính cách

- Alter/Alterman già / cổ điển / cũ
- Dreyfus ba chân, người chống gậy
- Erlich chân thật
- Frum sùng đạo
- Gottleib yêu Thiên Chúa, người rất là mộ đạo
- Geller/Gelber vàng, người tóc vàng
- Gross/Grossman người to con
- Fried/Friedman hạnh phúc
- Hoch/Hochman/Langer/Langerman người tướng tá cao
- Klein/Kleinman người nhỏ con
- Krauss tóc quăn tóc xoắn
- Kurtz/Kurtzman người lùn người thấp người có chiều cao khiêm tốn
- Reich/Reichman giàu sang giàu có
- Reisser người khổng lồ
- Roth/Rothman người tóc Đỏ
- Roth/Rothbard người râu Đỏ
- Shein/Schoen/Schoenman Đẹp Trai
- Schwartz/Shwartzman/Charney tóc đen hay da ngăm
- Scharf/Scharfman người sắc sảo trí tuệ thông minh

✡ Lấy tên gọi Thú Vật làm tên họ

- Baer/Berman/Beerman/Berkowitz/Beronson con Gấu
- Adler con chim Đại Bàng ( có thể bắt nguồn từ việc nhắc đến chim đại bàng trong Psalm 103:5 )
- Einhorn con Kỳ lân con ngựa một sừng
- Falk/Sokol/Sokolovksy con chim ưng
- Fuchs/Liss con cáo
- Hirschhorn con hươu nai
- Karp con cá chép
- Loeb con sư tử
- Strauss con đà điểu ( hay bó hoa )
- Wachtel con chim cút

✡ Cộng đồng

- Sandek nghĩa là Bố Già
- Richter thẩm phán
- London học giả

✡ Tên họ lãng mạn văn hoá Đức

Khi người Do Thái ở Đế quốc Áo-Hung được yêu cầu lấy tên họ, một số đã chọn những cái đẹp nhất họ có thể nghĩ đến và có thể đã bị nhà chức trách tính phí đăng ký. Theo Bách khoa toàn thư của YIVO, "Những cái tên họ thường liên quan đến thiên nhiên và sắc đẹp. Rất có khả năng là các lựa chọn đã chịu ảnh hưởng bởi xu hướng lãng mạn chung của nền văn hoá Đức vào thời đó."

- Applebaum cây Táo
- Birnbaum cây Lê
- Buchsbaum cây Hoàng Dương
- Kestenbaum cây Hạt Dẻ
- Kirschenbaum cây Anh Đào
- Mandelbaum cây Hạnh Nhân
- Tannenbaum cây Thông

🕎 Lấy tên của các nhân vật trong Kinh Thánh làm tên họ

Một vài người Do Thái lấy tên của các nhân vật trong Kinh Thánh làm tên họ:

-Tên Cohen biến thể thành những tên họ như Cohn, Kohn, Kahan, Kahn, Kaplan.
- Tên Levi biến thể thành những tên họ như Levy, Levine, Levinsky, Levitan, Levenson, Levitt, Lewin, Lewinsky, Lewinson.
- Tên Aaron biến thể thành những tên họ như Aronson và Aronoff.
- Tên David biến thể thành những tên họ như Davis & Davies.
- Tên Isaac biến thể thành những tên họ như Isaacs, Isaacson/Eisner.
- Tên Jacob biến thể thành những tên họ như Jacobs, Jacobson, Jacoby.
- Tên Menachem biến thể thành những tên họ như Mann, Mendel.
- Tên Samuel biến thể thành những tên họ như Samuels, Zangwill.

🕎 Lấy tên họ từ tên Hebrew viết tắt

- Baron - bar aron ( con trai của Aaron )
- Beck — bene kedoshim ( hậu duệ của những người tử vì đạo )
- Metz — moreh tsedek ( giáo viên của sự công chính )

🕎 Những tên họ có nguồn gốc từ tiếng Hebrew và Yiddish

- Lieb nghĩa là con sư tử trong tiếng Yiddish. Đây là gốc rễ của nhiều tên họ Ashkenazi bao gồm Liebowitz, Lefkowitz, Lebush, và Leon. Là bản dịch tiếng Yiddish của từ aryeh trong tiếng Hebrew. Con Sư Tử là biểu tượng của chi tộc Judah.

- Hirsch nghĩa là con nai trong tiếng Yiddish. Đây là gốc rễ của nhiều tên họ Ashkenazi bao gồm Hirschfeld, Hirschbein/Hershkowitz (con trai của Hirsch), Hertz/Herzl, Cerf, Hart, and Hartman. Là bản dịch tiếng Yiddish của từ linh dương trong tiếng Hebrew: tsvi. Con Linh Dương là biểu tượng của chi tộc Naphtali.

- Taub nghĩa là con chim bồ câu trong tiếng Yiddish. Đây là gốc rễ của tên họ Ashkenazi là Tauber. Con Chim Bồ Câu là biểu tượng của nhà tiên tri Jonah.

- Wolf là gốc rễ của nhiều tên họ Ashkenazi bao gồm Wolfson, Wouk, và Volkovich. Con Chó Sói là biểu tượng của chi tộc Benjamin.

- Eckstein tiếng Yiddish nghĩa là Viên đá đầu tiên Viên đá góc tường, có nguồn gốc trong Kinh Thánh Psalm 118:22.

- Good ( người ) là bản dịch tiếng Yiddish của từ tốt đẹp trong tiếng Hebrew: tuviah.

- Margolin tiếng Hebrew là viên ngọc trai.

✡ Những tên khác được chọn và kết hợp với những từ gốc sau đây:

Blumen (bông), Fein (tốt), Gold, Green, Lowen (sư tử), Rosen (hoa hồng), Schoen/Schein (xinh đẹp) — kết hợp với berg (đồi núi), thal (thung lũng), bloom (hoa), zweig (vòng hoa), blatt (lá), vald hay wald (gỗ), feld (cánh đồng).

Những tên khác bao gồm Diamond (kim cương), Glick/Gluck (may mắn), Hoffman (hy vọng), Fried/Friedman (sự hạnh phúc), Lieber/Lieberman (người yêu).

✡ Tên họ Do thái đến từ ngôn ngữ khác:

- Sender/Saunders từ Alexander.
- Kagan hậu duệ người Khazar, một nhóm người nói tiếng Thổ ở Trung Á.
- Kelman/Kalman từ tên Hy Lạp Kalonymous, bản dịch tiếng Hy Lạp của từ tên tốt (shem tov) trong tiếng Hebrew, phổ biến với người do Thái thời trung cổ Pháp và Ý.
- Marcus/Marx từ tiếng Latin đề cập đến vị thần ngoại giáo sao Hỏa là Vị Thần Chiến Tranh.

Cuối cùng, có thể có những người Do Thái bị thay đổi hoặc rút ngắn bởi thanh tra khám xét dân nhập cư (mặc dù điều này bị tranh cãi) hoặc bởi chính những người nhập cư (hoặc con cháu của họ) để tên nghe giống người Mỹ hơn, đó là lý do tại sao "Sean Ferguson" là một người Do Thái.

🕎 Nào chúng ta cùng kết thúc với bài hát ngắn:

Và đây là Boston cũ tốt;
Nhà của Đậu và Cá Tuyết.
Nơi mà Lowell chỉ nói chuyện với Cabots;
Và Cabots nói Tiếng Yiddish, bởi Thiên Chúa!

#nguoidothai #dandothai #dothai #dantocdothai #tenho

Tác giả Bennett Muraskin - Tham khảo: http://www.slate.com/blogs/lexicon_valley/2014/01/08/ashkenazi_names_the_etymology_of_the_most_common_jewish_surnames.html

Monday, July 3, 2017

Ngày lễ Độc Lập Hoa kỳ

Ngày lễ Độc Lập Hoa kỳ - Ngày 4 tháng 7 năm 1777 là ngày Hoa kỳ giành độc lập và trở thành một quốc gia. Tính chất thiêng liêng của ngày này được thể hiện qua câu văn trong báo Virginia ra ngày 18/07/1777: "Ngày 4 tháng 7 là ngày vinh quang và đáng nhớ nhất, từ rày về sau sẽ được tổ chức cho toàn nước Mỹ từ năm này đến năm khác cho đến khi nào thời gian không còn nữa. Amen và Amen"

Hai nơi làm lễ lớn nhất là Philadelphia (Pennsylvania) và Boston (Massachusetts)

Năm 1777, người dân Phidalelphia tưởng nhớ ngày 4 tháng 7: chuông ngân, súng nổ, đèn cầy thắp sáng, pháo đốt, nhưng chính thật ngày 4 tháng 7 năm 1777 là một ngày rất giản dị bình thường. Ngày nay, người dân Philadelphia làm lễ trong Independence Hall, nơi những hoạt cảnh lịch sử đã được dựng lại và bản Tuyên ngôn Độc lập được đọc.

Khi chiến tranh chấm dứt năm 1783, ngày 4 tháng 7 trở thành ngày nghỉ trong vài nơi. Tại Boston, ngày lễ Độc lập đã thay thế ngày 5 tháng 3, ngày thảm sát cuả Boston (Boston Massacre), và được xem như ngày lễ tổ quốc chính. Có diễn văn, sự kiện quân sự, diễn hành và pháo bông.

Năm 1941, quốc hội Mỹ tuyên bố ngày 4 tháng 7 là ngày lễ chính thức của USA

II. Lịch sử:

Christopher Columbus khám phá ra châu Mỹ vào năm 1492.

Nhiều dân thuộc địa đến Mỹ để tìm tự do tín ngưỡng: Espagne, Portugal, Anh, Pháp, Hòa Lan đến thuộc địa xứ này. Dân hành hương (pilgrims) là nhóm dân tị nạn đầu tiên tại Mỹ: nhóm Puritans đến cư ngụ tại Massachusetts, nhóm Quakers đến vùng Pennsylvania và người Công Giáo định cư tại Maryland.

Dân thuộc địa Hoà Lan và Pháp đến Mỹ để mua bán. Dân Pháp định cư tại Canada, dân Espagne đến Florida, dân Hòa Lan đến New York

Năm 1763 Anh Quốc thắng quân Pháp và chiếm Canada.

13 tiểu bang đầu tiên của Hoa kỳ: Connecticut, New Hampshire, New York, New Jersey, Massachusetts, Pennsylvania, Delaware, Virginia, North Carolina, South Carolina, Georgia, Rhode Island, Maryland

Lúc ký kết, Hoa Kỳ gồm 13 thuộc địa dưới quyền cai trị của vua George III (1738-1820, Windsor). Lúc bấy giờ các thuộc địa Anh ở Mỹ phải trả thuế cho mẫu quốc quá cao nhưng lại không có đại biểu trong Quốc Hội Anh (Taxation without Representation), nên nổi dậy đòi quyền tự do và độc lập.

Năm 1774 đại biểu của 13 thuộc địa họp lần đầu tiên tại Philadelphia, Pennsylvania. Cuộc họp này gọi là Quốc Hội Lục Ðịa (Continental Congress) và do Tướng George Washington thống lãnh quân đội chống lại Anh Quốc.

Các thuộc địa này sau này trở thành 13 Tiểu bang đầu tiên của Mỹ khi Mỹ trở thành độc lập với Anh Quốc.

III. Tiến trình:

1774: 13 thuộc địa gởi đại diện đến Philadelphia, Pennsylnania để thành lập Quốc Hội Lục địa thứ Nhất (First Continental Congress). Họ nôn nóng chuẩn bị nhưng vẫn còn lâu mới tuyên chìến.

4/1775: Quân đội của vua George tiến về Concord, Massachusetts. Tiếp theo là trận chiến tại Concord, là tiếng súng (tại đây) vang vọng đến khắp thế giới, đánh dấu bước đầu cuộc cách mạng Mỹ

5/1776: Sau gần một năm cố gắng giải quyết sự khác biệt với mẫu quốc Anh, các thuộc địa gởi một lần nữa các đại diện cho Quốc Hội Lục địa thứ Nhì.

6/1776: Sự quyết tâm được khởi đầu bởi Richard Henry Lee, Virginia. Nhận thấy rằng những cố gắng của họ vô vọng, một ủy ban được thành lập để soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập công khai. Đứng đầu là Thomas Jefferson, ủy ban còn có John Adams, Ben Benjamin Franklin, Philip Livingston và Roger Sherman.

6/7/1776: Pennsylvania Evening Post là tờ báo đầu tiên đăng bản Tuyên Ngôn Độc Lập.

8/7/1776: Lần đầu tiên bản tuyên ngôn được đọc trước công chúng tại Independence Square của Philadelphia. Cái chuông trong Independence Hall được biết dưới tên "Province Bell" sau này được đổi tên là Liberty Bell.

8/1776: Việc ký Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bắt đầu ngày 4 tháng 7 nhưng phải đến tháng 8 mới hoàn tất. Và ngày 4 tháng bảy được chấp nhận như ngày kỷ niệm chính thức cho sự độc lập Hoa Kỳ khỏi nước Anh

4/7/1777: Lễ Independence Day được cử hành lần đầu tiên.

IV. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập:

Bản Tuyên Ngôn độc Lâp trở thành một tài liệu chính trị được ca tụng nhất và thời nào cũng được chép ra. Thomas Jefferson soạn ra bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập là sau ngày được bầu làm Tổng Thống thứ 3 của Hoa Kỳ. Bản Tuyên ngôn Độc Lập được xét duyệt bởi John Adams, Benjamen Franklin và Jefferson, rồi được 56 hội viên ký tên và xác nhận không còn là thuộc địa của Anh Quốc nữa.

John Hancock, chủ tịch Second Continental Congress (Đại hội Lục Địa lần II), là người đầu tiên ký bản Tuyên Ngôn. Viết hoa, chữ ký của ông nổi bật trải rộng trên tài liệu này. Từ đó khi nào người ta hỏi bạn "John Hancock" tức là người ta có ý muốn bạn ký tên đó. Cuối cùng có tất cả 56 người ký bản Tuyên Ngôn, chứng tỏ sự anh hùng của họ vì tuyên bố đòi độc lập với Anh Quốc là một hành động phản bội, có thể bị tội tử hình. Họ can đảm hy sinh mọi thứ bởi họ phải bỏ nhà và ẩn náu nơi khác.

Bản tuyên Ngôn Độc Lập là bằng chứng của Cách Mạng Hoa Kỳ, nói lên những bất bình với vua George III. Đó cũng là một bài tuyên bố về lãnh thổ và triết lý, chiếu theo những bài viết của các triết gia John Locke và Jean Jacques Rousseau. Nó khẳng định rằng mọi người đều do Thượng Đế tạo ra, từ thiên nhiên mà ra, vậy phải có những quyền lợi tự nhiên nào đó, không được xâm phạm quyền tự do của họ.

Từ đó, Bản Tuyên Ngôn và Cách Mạng Hoa Kỳ là cảm hứng cho mọi người tìm tự do trên khắp thế giới.
Vietsciences Võ Thị Diệu Hằng 03/07/2006

Ngày lễ độc lập (4/7) Tại Hoa Kỳ, Ngày Độc Lập, còn gọi là 4 tháng 7 (the 4th of July), là một ngày lễ liên bang để kỷ niệm Tuyên ngôn Độc lập được ký năm 1776. Ngày lễ này thường được đi kèm với những cuộc diễu hành, liên hoan ngoài trời, và nhiều buổi lễ công cộng. Từ năm 1777, pháo hoa đã được đốt để đón mừng ngày lễ. Ngày Độc lập được chào đón với những biểu hiện yêu nước. Nhiều nhà chính trị thường đọc diễn văn ca ngợi các di sản và người dân của Hoa Kỳ. Các gia đình thường làm cuộc liên hoan ngoài trời, thường tụ họp với những người bà con ở xa, vì được nghỉ nhiều ngày cuối tuần hơn. Các cuộc diễu hành được diễn ra sáng ngày 4, vào buổi tối thường có pháo hoa ngoạn mục. Trong dịp lễ thì nhiều gia đình treo cờ Hoa Kỳ ở trước nhà để mừng. #ngaydoclap #ledoclap #hoaky #hoaki #nuocmy #nuocmi
lễ độc lập hoa kỳ ngày độc lập hoa kỳ lễ độc lập mỹ lễ độc lập mĩ lễ độc lập nước mỹ lễ độc lập nước mĩ ngày độc lập mỹ ngày độc lập mĩ ngày độc lập nước mỹ ngày độc lập nước mĩ ngày độc lập hợp chủng quốc hoa kỳ ngày độc lập hợp chủng quốc mỹ ngày độc lập hợp chủng quốc mĩ lễ độc lập hợp chủng quốc hoa kỳ lễ độc lập hợp chủng quốc mỹ lễ độc lập hợp chủng quốc mĩ lễ độc lập hoa kì ngày độc lập hoa kì ngày độc lập hợp chủng quốc hoa kì lễ độc lập hợp chủng quốc hoa kì ngày 4 tháng 7

Lễ Độc Lập Hoa Kỳ Ngày Độc Lập Hoa Kỳ Lễ Độc Lập Mỹ Lễ Độc Lập Mĩ Lễ Độc Lập Nước Mỹ Lễ Độc Lập Nước Mĩ Ngày Độc Lập Mỹ Ngày Độc Lập Mĩ Ngày Độc Lập Nước Mỹ Ngày Độc Lập Nước Mĩ Ngày Độc Lập Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ Ngày Độc Lập Hợp Chủng Quốc Mỹ Ngày Độc Lập Hợp Chủng Quốc Mĩ Lễ Độc Lập Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ Lễ Độc Lập Hợp Chủng Quốc Mỹ Lễ Độc Lập Hợp Chủng Quốc Mĩ Lễ Độc Lập Hoa Kì Ngày Độc Lập Hoa Kì Ngày Độc Lập Hợp Chủng Quốc Hoa Kì Lễ Độc Lập Hợp Chủng Quốc Hoa Kì Ngày 4 Tháng 7

Thursday, June 29, 2017

Vì sao thiên tài là thiên Tai của Nhân Loại

Vì sao thiên tài là thiên Tai của Nhân Loại

Hành tinh này không cần đến những người thành công nữa. Nhưng hành tinh này cần rất nhiều người hòa giải, người chữa bệnh, người phục chế, người kể chuyện và những người biết yêu thương - Đức Đạt Lai Lạt Ma
The planet does not need more ‘successful people’. The planet desperately needs more peacemakers, healers, restorers, storytellers and lovers of all kinds ~ Dalai Lama
Những nhà khoa học thường là THIÊN TAI của nhân loại
Cho nên trẻ em học sinh thiếu nhi Việt Nam thường có câu nói là thiên Tài của nhân loại là Thiên Tai của nhân loại.

Các bậc cha mẹ nên nuôi con cái trở thành người có ích cho xã hội thay vì nuôi con cái để trở thành Thiên Tài

Còn theo bạn thì tại sao thiên tài là thiên Tai của Nhân Loại ?

Cha đẻ bom nhiệt hạch là người Do Thái

Bạn có biết Cha Đẻ bom Nhiệt Hạch, bom Khinh Khí, bom Hydro, bom H là người Do Thái

Edward Teller (1908 - 2003) cha đẻ bom nguyên tử H
Theo nhà bác học Lewis Strauss, Chủ Tịch của Ủy Ban Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ, thì các nhà bác học có thể được xếp thành ba loại: loại thứ nhất chỉ chuyên tâm vào môn Khoa Học thuần túy, những người thuộc loại thứ hai chú ý tới các áp dụng của Khoa Học, còn sau cùng là những nhà bác học quan tâm tới ảnh hưởng của Khoa Học trên phương diện chính trị. Tuy nhiên, cũng có nhà bác học thuộc về cả ba loại kể trên: đó là trường hợp của ông Edward Teller
Edward Teller không phải là người chỉ biết sống trong tháp ngà. Ngoài những lúc đắm mình trong các bài toán vật lý nguyên tử, ông còn phụ trách việc giảng dạy môn Vật Lý Cao Cấp hoặc liên lạc với Bộ Quốc Phòng, vì ông vừa là hội viên của Tiểu Ban Tư Vấn thuộc Ủy Ban Nguyên Tử Lực, vừa là hội viên của Tiểu Ban Tư Vấn Khoa Học thuộc Bộ Không Lực Hoa Kỳ. Ngoài công việc khảo cứu Khoa Học, sở dĩ Edward Teller còn chú tâm tới chính trị cũng vì những ảnh hưởng do thời thơ ấu của ông.

1/ Thời niên thiếu.

Edward Teller chào đời vào ngày 15 tháng 1 năm 1908 tại thành phố Budapest, thuộc nước Hung Gia Lợi, trong một gia đình giàu có dòng dõi Do Thái. Sau cuộc Thế Chiến Thứ Nhất, nước Hung bị chia cắt và nền kinh tế của đất nước này sụp đổ. Vì cảm thấy sự bại vong của đất nước và vì nhận ra các dấu hiệu bài Do Thái, người cha của Edward Teller đã in sâu vào tâm khảm của cậu con trai hai điều: thứ nhất, khi nào tới tuổi thanh niên đầy đủ khả năng, cậu phải di cư sang một xứ sở nào hiếu khách hơn, thứ hai, vì thuộc vào lớp người thiểu số bị ghét bỏ, cậu phải vượt lên những kẻ khác để có thể đồng đẳng với họ.
Vì thế ngay từ thuở nhỏ, Edward Teller đã lo sợ trước nỗi ám ảnh của những chính thể độc tài. Cậu đã hiểu rõ những kết quả tai hại do các cuộc thất bại mang đến. Chính những lời dặn của người cha, chính sự lo lắng cho tương lai đã khiến Edward Teller trở nên một người làm việc siêng năng. Thời còn theo ban trung học tại Budapest, cậu Edward đã tỏ ra là một học sinh có năng khiếu về Toán Học và đã vượt xa các bạn một cách dễ dàng. Ngoài thú vui làm toán, Edward còn ưa thích Âm Nhạc, Văn Thơ, ham đánh cờ hoặc đi tản bộ trong miền thôn dã. Edward Teller đã làm thơ và đã sáng tác khi rung động trước đôi mắt xanh của cô em gái một người bạn.

Sau khi học xong bậc trung học, Edward Teller ghi tên vào Viện Kỹ Thuật của thành phố Karlsruhe, nước Đức, tốt nghiệp kỹ sư Hóa Học rồi tới Munich và Leipzig, theo học ngành Hóa Lý (physical chemistry), lãnh văn bằng Tiến Sĩ vào năm 1930. Đề tài của luận án tốt nghiệp của Edward Teller gồm khảo cứu về ion của phân tử hydrogen (hydrogen molecular ion), sự nghiên cứu này đã đặt nền móng cho một lý thuyết về quỹ đạo phân tử (molecular orbital) mà ngày nay còn được giới Khoa Học chấp nhận rộng rãi.

Vào năm 1933 khi Hitler lên nắm chính quyền tại nước Đức thì Edward Teller đang nghiên cứu cách cấu tạo phân tử của vật chất và theo học môn vật lý lý thuyết dưới sự chỉ dẫn của nhà bác học Niels Bohr tại Copenhagen, nước Đan Mạch, rồi sau đó giảng dạy môn Vật Lý tại trường Đại Học Goettingen từ năm 1933 tới năm 1935. Thời bấy giờ, người Đức Quốc Xã bắt đầu bạc đãi giống dân Do Thái. Edward Teller liền lợi dụng cơ hội này, trốn sang nước Anh cùng bà vợ Augusta Harkanyi rồi hai năm sau, ông sang Hoa Kỳ, nhận chân Giáo Sư Vật Lý tại trường Đại Học George Washington. Trong thời gian giảng dạy này, Edward Teller đã khảo cứu về các phản ứng nhiệt lượng hạch tâm, tức là những điều cho phép nhà khoa học cắt nghĩa được nguyên nhân sự cháy sáng của các vì sao. Cùng với nhà vật lý George Gamow, Edward Teller thiết lập ra các quy luật mới để xếp hạng các cách theo đó các hạt hạ nguyên tử (subatomic particles) có thể thoát ra khỏi nhân nguyên tử trong thời kỳ phân rã phóng xạ (radioactive decay).

Bẩy tháng trước ngày Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ, các nhà bác học Hoa Kỳ cảm thấy lo ngại khi hay tin tại nước Đức, các nhà vật lý đã thành công trong việc phá vỡ nhân nguyên tử. Khi Thế Chiến xẩy ra thì tại châu Mỹ, nhà bác học Léo Szilard cũng đạt được các kết quả khả quan trong các thí nghiệm về hạch tâm và chứng tỏ rằng nước Mỹ có thể chế tạo được một thứ bom cực kỳ mạnh. Léo Szilard cùng vài nhà bác học khác liền vận động để chính phủ Hoa Kỳ khởi sự công cuộc chế tạo thứ vũ khí đó.

Muốn cho Tổng Thống Franklin D. Roosevelt phải đặc biệt chú ý, các nhà bác học Mỹ đồng ý rằng cần có chữ ký của nhà Đại Bác Học Albert Einstein. Szilard liền nhờ Edward Teller đưa xe tới Peconic Bay, thuộc tiểu bang New York, để gặp Einstein và nhờ vậy, Dự Án Manhattan ra đời, cho phép các nhà khoa học thực hiện những điều hiểu biết mà từ trước, chúng vẫn còn ở trong lãnh vực lý thuyết. Như vậy cuộc viếng thăm Albert Einstein tại Peconic Bay đã đánh dấu một khúc quanh trong quãng đời của Edward Teller. Từ đây ông không còn có thể dửng dưng trước các vấn đề chính trị, chiến tranh và nhất là vấn đề võ trang quân đội.

2/ Nghiên cứu về Bom Khinh Khí.

Năm 1941, Edward Teller gia nhập quốc tịch Hoa Kỳ rồi tới năm 1946, tham gia vào nhóm các khoa học gia của Enrico Fermi tại Viện Khảo Cứu Nguyên Tử (the Institute for Nuclear Studies) thuộc trường Đại Học Chicago, tại nơi này, phản ứng hạt nhân dây chuyền (nuclear chain reaction) đã được thực hiện. Sau đó, Edward Teller nhận lời mời tới trường Đại Học U.C. Berkeley để khảo cứu lý thuyết về loại bom nguyên tử loại A cùng với J. Robert Oppenheimer rồi khi Oppenheimer thiết lập nên Cơ Sở Thí Nghiệm Khoa Học tại Los Alamos, thuộc tiểu bang New Mexico, vào năm 1943 thì Edward Teller là người đầu tiên được tuyển dụng.

Trong khi quả bom nguyên tử A còn đang ở trong thời kỳ chế tạo, Edward Teller lại tìm ra một phương pháp mới dùng nhiệt lượng hạch tâm để từ đó chế tạo ra một thứ bom cực kỳ mạnh. Edward Teller đã cùng nhà vật lý Stanislaw M. Ulam khám phá ra cấu hình Teller-Ulam (the Teller-Ulam configuration) dùng làm căn bản cho việc chế tạo vũ khí hỗn hợp hạt nhân (fusion weapons). Nhưng khi hai quả bom nguyên tử A nổ, san phẳng hai thành phố Hiroshima và Nagasaki một cách quá khốc hại, thì phần lớn các nhà bác học trong chương trình Manhattan bị lương tâm cắn dứt, họ hối hận về thứ phát minh mới đó, không muốn tiếp tục công cuộc khảo cứu các vũ khí nguyên tử và không quan tâm đến dự định của Edward Teller.

Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt được vài năm. Mọi người quên lãng thứ khí giới khủng khiếp kể trên thì vào tháng 8 năm 1949, Liên Xô cho nổ quả bom nguyên tử đầu tiên của họ. Cuộc thí nghiệm này khiến cho tại Hoa Kỳ, nhiều người lo ngại. Edward Teller liền đưa ra dự án chế tạo bom H với sức tàn phá còn khốc liệt gấp ngàn lần thứ bom A thả xuống đất Nhật. Tuy nhiên, cũng có người lại cho rằng Liên Xô chế tạo được vũ khí nguyên tử sẽ làm quân bình thế giới trên phương diện chính trị. Trong khi mọi người đang xôn xao thì phần lớn các nhà bác học thuộc Tiểu Ban Tư Vấn của Ủy Ban Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ, dưới quyền chủ tọa của Robert Oppenheimer, đã đồng thanh tuyên bố chống lại mọi dự án chế tạo bom H. Edward Teller phải đi ngược lại quyết định trên với một phần thắng rất mỏng manh. Ông cũng được Lewis Strauss giúp đỡ.

Cuộc tranh chấp với Oppenheimer đang dằng dai thì tới tháng 1 năm 1950, một vụ gián điệp nguyên tử bị phát giác và làm rung chuyển dư luận thời bấy giờ. Thủ phạm là Klaus Fuchs, một nhà bác học gốc Đức, quốc tịch Anh và làm việc tại nước Anh, đã thú nhận có trao các tài liệu nguyên tử cho các gián điệp của Liên Xô. Hơn nữa, Fuchs cũng giúp việc tại căn cứ Los Alamos và cũng đã biết các tài liệu về các phản ứng nhiệt lượng hạch tâm, điều này làm cho Hoa Kỳ lo ngại. Bốn ngày sau buổi nhận tội của Fuchs, Tổng Thống Harry Truman hạ lệnh cho Ủy Ban Nguyên Tử Lực bắt tay vào công cuộc chế tạo bom H.

Vào tháng 11 năm 1952, cuộc thử bom loại H thứ nhất đã làm biến mất hòn đảo san hô Elugelab tọa lạc tại phía nam Thái Bình Dương. Tuy nhiên đây chưa hẳn là quả bom H. Theo một nhà bác học thì vào thời đó, nguyên tắc chế tạo bom H chỉ có hai người thấu triệt, đó là ông Edward Teller và nhà bác học Liên Xô Andrei Sakharov.

Cũng vào năm 1952, Edward Teller là nhà khoa học có công rất lớn trong việc thiết lập nên cơ sở thí nghiệm nguyên tử thứ hai của Hoa Kỳ, đó là Trung Tâm Thí Nghiệm Lawrence Livermore, đặt tại Livermore thuộc tiểu bang California, rồi trong 4 thập niên kế tiếp, đây là cơ xưởng chính của Hoa Kỳ đã chế tạo ra các vũ khí nhiệt tâm (thermonuclear weapons). Edward Teller đã là phụ tá giám đốc của Trung Tâm này từ năm 1954 tới năm 1958 và từ năm 1960 tới năm 1975, rồi nhận chức vụ giám đốc vào các năm 1958 - 60, đồng thời ông cũng là Giáo Sư Vật Lý tại Đại Học U.C. Berkeley từ năm 1953 tới năm 1970.

Edward Teller là nhà khoa học chống đối tích cực chế độ Cộng Sản. Trong thập niên 1960, ông đã giúp công vào tiến trình Hoa Kỳ vượt qua Liên Xô về vũ khí nguyên tử. Ông đã phản đối Hòa Ước Chống Thí Nghiệm Nguyên Tử Năm 1963 (the 1963 Nuclear Test-Ban Treaty) qua đó cấm cản việc thử vũ khí nguyên tử trên tầng không, đồng thời ông cũng là người tiền phong trong Dự Án Plowshare (Project Plowshare), một chương trình của chính phủ Liên Bang đi tìm kiếm các công dụng hòa bình của các vụ nổ nguyên tử.

Vào thập niên 1970, Edward Teller là cố vấn của chính sách vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ rồi tới các năm 1982 - 83, ông Teller cũng ảnh hưởng tới Tổng Thống Ronald Reagan trong Dự Án Bảo Vệ Chiến Lược (the Strategic Defense Initiative) và đây là một hệ thống phòng vệ các cuộc tấn công nguyên tử của Liên Xô.

Theo ông Edward Teller, Khoa Học ngày nay là Kỹ Thuật của ngày mai, vì thế ông cho rằng muốn thắng Liên Xô trên địa hạt Khoa Học, Hoa Kỳ phải đẩy mạnh phong trào khảo cứu Khoa Học thuần túy và gia tăng nền giáo dục Khoa Học tại các trường trung học. Vẫn theo ông Edward Teller, việc học hỏi Khoa Học không đòi hỏi một năng khiếu bẩm sinh mà cần phải chú tâm đến vấn đề. Ông cho rằng chỉ có Khoa Học mới giải quyết được các vấn đề gai góc mà chúng ta sẽ gặp phải, nhất là khi trái đất càng ngày càng trở nên chật hẹp trước sự bành trướng về nhân số và kỹ nghệ.

Ông mất hôm thứ Ba ngày 10 tháng 9 năm 2003

Vietsciences Phạm Văn Tuấn 20/10/2004

Vũ khí hạt nhân đơn giản là lấy năng lượng từ quá trình phân hạch (còn gọi là phân rã hạt nhân). Một vật liệu có khả năng phân rã được lắp ráp vào một khối lượng tới hạn, trong đó khởi phát một phản ứng dây chuyền và phản ứng đó gia tăng theo tốc độ của hàm mũ, giải thoát một năng lượng khổng lồ. Quá trình này được thực hiện bằng cách bắn một mẫu vật liệu chưa tới hạn này vào một mẫu vật liệu chưa tới hạn khác để tạo ra một trạng thái gọi là siêu tới hạn. Khó khăn chủ yếu trong việc thiết kế tất cả các vũ khí hạt nhân là đảm bảo một phần chủ yếu các nhiêu liệu được dùng trước khi vũ khí tự phá hủy bản thân nó. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom nguyên tử, còn gọi là bom A.

Các loại vũ khí cao cấp hơn thì lấy năng lượng nhiều hơn từ quá trình nhiệt hạch (còn gọi là tổng hợp hạt nhân). Trong loại vũ khí này, bức xạ nhiệt từ vụ nổ phân rã hạt nhân được dùng để nung nóng và nén đầu mang tritium, deuterium, hoặc liti, từ đó xảy ra phản ứng nhiệt hạch với năng lượng được giải thoát lớn hơn rất nhiều. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom khinh khí, còn gọi là bom hydro, bom H hay bom nhiệt hạch. Nó có thể giải thoát một năng lượng lớn hơn hàng ngàn lần so với bom nguyên tử.

Người ta còn tạo ra các vũ khí tinh vi hơn cho một số mục đích đặc biệt. Vụ nổ hạt nhân được thực hiện nhờ một luồng bức xạ neutron xung quanh vũ khí hạt nhân, sự có mặt của các vật liệu phù hợp (như Coban hoặc vàng) có thể gia tăng độ ô nhiễm phóng xạ. Người ta có thể thiết kế vũ khí hạt nhân có thể cho phép neutron thoát ra nhiều nhất; những quả bom như vậy được gọi là bom neutron. Về lý thuyết, các vũ khí phản vật chất, trong đó sử dụng các phản ứng giữa vật chất và phản vật chất, không phải là vũ khí hạt nhân nhưng nó có thể là một vũ khí với sức công phá cao hơn cả vũ khí hạt nhân.

https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_kh%C3%AD_h%E1%BA%A1t_nh%C3%A2n

Cha đẻ bom khinh khí là người Do Thái Cha đẻ bom nhiệt hạch là người Do Thái Cha đẻ bom hydro là người Do Thái Cha đẻ bom h là người Do Thái
Cha đẻ bom nhiệt hạch, bom khinh khí, bom hydro, bom h là người Do Thái Edward Teller
#nguoidothai #dandothai #dothai #hatnhan #nguyentu #vukhi #vukhihatnhan #vukhinguyentu #bomnguyentu #bomhatnhan #bomkhinhkhi #bomnhiethach #khinhkhi #nhiethach