Sunday, June 13, 2021

Người Truyền Giống là những Giáo Sĩ Thông Minh:

Người Truyền Giống là những Giáo Sĩ Thông Minh: Sự khác biệt lớn giữa Công giáo và Do Thái giáo là các linh mục phải sống độc thân không kết hôn kể từ khi Hội đồng Carthage thế kỷ 4 đã ra phán quyết rằng các vị linh mục không tham gia vào cuộc sống hôn nhân gia đình, ngược lại thì những ông thầy rabbi hay giáo sĩ người do thái thì được khuyến kích lấy vợ và sinh đẻ thật nhiều con cái hay con đàn cháu đống. Vào thời Trung Cổ, kết quả là sự thiếu hụt trầm trọng những người có chỉ số thông minh IQ Cao trong dân số Công giáo, bởi vì các bé trai thông minh sáng sủa nhất, có năng khiếu học vấn cao thì thường bị nhốt trong các chủng viện và điều này đã làm lãng phí nguồn gene di truyền của họ. Trong khi đó thì ... các nhà hiền triết, các ông thầy và các học giả người Do Thái đã kết hôn với những người phụ nữ thông minh và tạo ra những gia đình lớn, và những gia đình thông minh. Tam cuốn sách khảo sát hiện tượng này là Robert Novick’s Anarchy, State and Utopia, Ernst Vandenberg’s The Jewish Mystique, và Paul Johnson’s A History of the Jews.

Tư tưởng biện chứng và tư duy hợp lý của người Do Thái

Tư tưởng biện chứng và tư duy hợp lý của người Do Thái: Tiến sĩ Sam Lehman-Wilzig cho tui biết rằng một trong những cách tiếp cận đáng chú ý đối với cách học tập của người Do Thái là biện chứng. Kinh Thư Talmud không phải là Luật Pháp mà thay vào đó là một bản tóm tắt khổng lồ của những cuộc tranh luận. Người Do Thái được khuyến khích để xem xét các quan điểm và những góc nhìn khác nhau của một vấn đề, và người do thái đã được dạy là phải đặt câu hỏi cho tất cả mọi thứ, bao gồm cả Luật Pháp, tư duy Logic của thầy giáo, và hệ thống niềm tin của chính bản thân mình. Các ông thầy Rabbi đã phát triển các nguyên tắc tranh luận, toàn bộ hệ thống đặt câu hỏi mà người Do Thái đã sử dụng trong 2.000 năm trong các cuộc đấu khẩu trong hai lãnh vực là tôn giáo và thế tục.

Biện chứng không phải là một phát minh của người do thái: Biện chứng thực ra là một bí kíp học hỏi mà người Do Thái đã vay mượn từ người Hy Lạp và triết học Hi Lạp. Sự kết hợp này là phương pháp luận Socrates Do Thái. Những dấu vết về sự ảnh hưởng của nền văn minh Hy Lạp hiển nhiên được thấy trong bữa ăn nhậu vào ngày Lễ Vượt Qua nơi mà người cha Do Thái nằm trên gối ( tương tự như người Hy Lạp ) trong khi nhi đồng Do Thái trẻ tuổi nhất đặt Tứ Câu Hỏi. Phương pháp học này là rất độc đáo trong thời Trung Cổ, so với các truyền thống "có thẩm quyền" của Công giáo Châu Âu.

Tiến sĩ Sanford Aranoff, Giáo sư Khoa học và Toán học tại Đại học Rider, đã chuyển tải cho tôi một thông điệp tương tự. Theo quan điểm của ông, Do thái giáo dựa trên các nguyên lý của tư duy hợp lý. ( Tư duy hợp lý bắt đầu với các nguyên tắc đã được nêu rõ, tiếp tục với các khoản khấu trừ hợp lý, và sau đó xem xét bằng chứng thực nghiệm để có thể sửa đổi các nguyên tắc )

Các kỹ năng phân tích, các tuyệt chiêu chiến lược được phát triển trong cả hai tư duy biện chứng và tư duy phản biện của người Do Thái là một thành phần quan trọng của các bài kiểm tra chỉ số thông minh IQ, và cũng rất là cần thiết trong những nghề nghiệp về pháp luật, hàn lâm, khoa học và công nghệ kỹ thuật.



người Do Thái là một trong những dân tộc được đô thị hóa lâu đời nhất thế giới

Sự đô thị hóa: Vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên thì 80-90% người do thái là nông dân. Cho đến năm 1000 trước công nguyên thì chỉ còn 10-20% người do thái làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Sắc lệnh cải cách giáo dục của Joshua ben Gamla đã trao các kỹ năng ngôn ngữ và toán học cho các cậu bé Do Thái, tạo điều kiện thuận lợi cho họ thoát khỏi cuộc sống vùng nông thôn với lối sống tự cung tự cấp và di chuyển đền vùng thành thị làm những ngành nghề yêu cầu trình độ học vấn cao, liên quan đến bán hàng, giao dịch thương mại, kinh doanh và tài chính.




Di chuyển từ môi trường đồng quê sang các thành phố tăng chỉ số thông minh IQ, do sự phức tạp ngày càng tăng của việc đô thị hóa, sự biết chữ và công nghệ. Nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006 đã cho thấy sự khác biệt trong chỉ số thông minh IQ giữa sinh viên thành phố so với sinh viên vùng nông là 19,4 điểm. Một khảo sát năm 1970 ở Hy Lạp ghi nhận sự khác biệt là 10-13 điểm. Các nghiên cứu khác ghi nhận sự khác biệt nhỏ hơn chỉ có 2-6 điểm, nhưng nhất trì thì, người dân thành thị luôn đạt điểm cao hơn, và người Do Thái là một trong những dân tộc được đô thị hóa lâu đời nhất thế giới.

 

Các Đàn Ông người Do Thái Cùi Bắp thì Đi Về Đâu

Các Đàn Ông người Do Thái Cùi Bắp thì Đi Về Đâu ? Có một bình luận viên người do thái xấp xỉ khoảng 40 tuổi, ông sống ở thành phố Nữu Ước với danh pháp là ASAMATTEROFFACT cho tui biết rằng - trong quan điểm của ông ấy - những người do thái Ashkenazi mà không được thông minh không được khôn cho lắm và thiếu tính sáng tạo thì các người do thái Ashkenazi đó cảm thấy tự ti cho rằng bản thân thấp kém hèn mọn inferior. Ông ấy cho rằng chính điều này cuối cùng dẫn đến những đàn ông người do thái cùi bắp lấy vợ là những người ngoài bộ tộc nghĩa là lấy vợ dân ngoại hay kết hôn với phụ nữ không phải là người do thái.



Chỉ có duy nhất những người đàn ông do thái Xịn ubermensch thì ở lại để truyền giống.

Quan điểm của ông này được lặp lại bởi một người đăng khác là Efox cũng tuyên bố rằng các người đàn ông do thái kém thông minh hơn thì không có khả năng để trở thành Thầy Tư Tế cho chính bản thân họ thì chắc chắn mấy người do thái đó sẽ bỏ đạo Do Thái giáo và gia nhập tôn giáo khác.

Trường Học Bắt Buộc cho Nam giới Do Thái

Trường Học Bắt Buộc cho Nam giới: Vào năm 64 trước công nguyên, thầy tế lễ thượng phẩm Joshua ben Gamla đã ban hành và thực thi một sắc lệnh cho các trường học bắt buộc cho tất cả bé trai, bắt đầu từ 6 tuổi. Trong vòng 100 năm, người Do Thái đã xóa mũ chữ và dạy cách tính toán cho tất cả đàn ông người do thái, người do thái là dân tộc đầu tiên trong lịch sử đạt được thành tựu này.

Qua sắc lệnh cải cách cấp tiến này đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong nhân khẩu học. Chi phí đắt đỏ tốn kém trong việc nuôi dạy giáo dục trẻ em trong nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp của thế kỷ thứ hai cho đến thế kỷ thứ sáu đã khiến nhiều người Do Thái vì hoàn cảnh đưa đẩy nên đã tự nguyện cải đạo chuyển đổi tôn giáo sang Christianity ( Kitô giáo Cơ Đốc giáo gọi nôm na là Thiên Chúa giáo ) dẫn đến sự suy giảm dân số của người Do Thái từ 4,5 triệu người do thái giảm xuống đột ngột chỉ còn 1,2 triệu người do thái.

Trong trường hợp này, sự ưu sinh của tự nhiên đã mang đến lợi thế cho hai nhóm người do thái:



Nhóm thứ nhất là các con trai của những người Do Thái giàu có giàu sang hay các quý tử của các Đại Gia Do Thái, những người do thái này có vẻ bề ngoài trông thông minh, có khả năng tài trợ tiền bạc và cung cấp nguồn tài chính lớn hơn cho các trường học để duy trì thành viên Do Thái cho con cháu của họ là các cậu ấm con nhà giàu Do Thái,

Nhóm thứ hai là những bé trai thông minh nhất có khả năng học tập nhanh với khả năng đọc, viết, và thông thạo những con số để làm toán với tốc độ học hỏi nhanh đủ để những bé trai này có thể "ở lại làm người Do Thái"

Ai bị cho ra rìa không còn là người Do Thái nữa ? Bị loại bỏ khỏi bể gien di truyền Do Thái ?

Câu trả lời là: những người Do Thái nghèo hơn, các người do thái KHÔNG có học thức hay Vô học thức hoặc thất học, và / hoặc là những người do thái có chỉ số IQ thấp nhất.




Trước Công Nguyên thì người do thái đã đề cao Giáo Dục

Trước Công Nguyên thì người do thái đã đề cao Giáo Dục: Giáo sư Jeremiah Unterman ở Jerusalem cho tui biết rằng Kinh Thư Torah giáo huấn các ông cha người do thái là phải dạy kinh sách Torah cho con cái của mấy ổng, và Marisa Landau trên futurepundit.com 6/4/05 trong tranh luận thì cho biết rằng tôn giáo của người do thái cấm đoán trẻ em mù chữ. Landau còn cho biết là phụ nữ người do thái được học để biết đọc và biết viết, đó là một hiện tượng độc đáo trong thế giới cổ đại. Landau cũng đề cập rằng, từ lâu đời rồi thì đã có một hủ tục giữa những người Do Thái là cung cấp một khoản tiền trợ cấp đầy đủ trong vòng 10 năm cho một đứa con Rể nào mà thông minh mà có nguyện vọng là cống hiến cả cuộc đời của nó chỉ để học. Dường như người do thái đã phát minh ra khái niệm gọi là Học Bổng.

Trong thời kỳ Trung Cổ, thầy tu người Pháp, Peter Abelard (1079-1142) đã viết về nền giáo dục Do Thái: Một người Do Thái, cho dù có nghèo khổ, cho dù ông ấy có mười người con, thì ông ấy sẽ cho tất cả các con cái được biết chữ, chứ không bắt con cái đi làm việc để kiếm tiền như các Kitô hữu làm, nhưng để hiểu luật pháp của Đức Chúa Trời. Và không chỉ là cho các con trai của ông, mà còn là cho các con gái của ông.

người Do Thái được hưởng thụ vệ sinh sạch sẽ hơn Dân Ngoại

Vệ sinh sạch sẽ và chế độ ăn kiêng: Giáo sư Sam Lehman-Wilzig Đại học Bar-Ilan ở Israel cung cấp cho tôi lý thuyết này. Đề nghị của ông dựa trên thực tế là - do việc thực hành các phong tục tập quán của họ - người Do Thái được hưởng thụ vệ sinh sạch sẽ hơn Dân Ngoại. Ông ấy cho biết rằng, người do thái rửa tay trước mỗi bữa ăn, đàn ông người do thái đi tắm thí ít nhất là một lần một tuần trong hồ nước phép hay hồ nước thánh mikveh ( một nhà tắm thanh lọc tâm hồn gội rửa sạch tâm linh ) và phụ nữ người do thái thì đi tắm ít nhất một lần một tháng sau khi kinh nguyệt kết thúc. Ông ấy cũng cho biết là luật cấm ăn thịt heo cấm xơi thịt lợn đã giúp người do thái hạn chế bị nhiễm bệnh giun xoắn trichinosis. ( Những người đàn ông nổi tiếng bị nhiễm bệnh ký sinh trùng này bao gồm Gautama Buddha và Wolfgang Mozart ). Với tỷ lệ bị nhiễm bệnh ít hơn, các bộ phận cơ quan trên thân thể người Do thái thì không phải chịu đựng nhiều như những người dân ngoại và điều này cũng cải thiện được năng lực trí não của họ.

Khái niệm này cũng đã được lặp lại ở nơi khác. Năm 1953, nhà nghiên cứu dược học David Israel Macht của trường đại học Johns Hopkins đã phỏng đoán rằng tất cả hàng chục món thịt bị cấm kỵ bởi luật pháp về chế độ ăn uống của người Do Thái trong Phục Truyền Luật Lệ và Sách Lê Vi, thực tế thì độc hại hơn thịt Kosher mà người Do Thái được phép ăn. Ngoài ra, trong cuốn sách gần đây Survival of the Sickest, tác giả Sharon Moalem cho thấy rằng người Do Thái loại bỏ thực phẩm đã lên men ở trong nhà của họ trong ngày Lễ Vượt Qua đã giúp họ không bị những con chuột lây lan bệnh dịch hạch vào thế kỷ 13. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, những người Do Thái Ashkenazi giàu sang phú quý thì sống trong các ngôi nhà rộng lớn ở Đông Âu thì sống sót và tồn tại qua các cơn bệnh dịch dễ dàng hơn vì họ không bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ nhiễm bệnh cao như trong những ngôi nhà nhỏ hơn với đông đúc người hơn.

Sự tương quan sâu rộng giữa chỉ số thông minh IQ cao, chế độ ăn uống lành mạnh, bệnh truyền nhiễm, cách ăn ở vệ sinh sạch sẽ và số lượng đông đảo người trong mái ấm gia đình, được kiểm tra thông qua các nghiên cứu trong các chương sau của cuốn sách này, đặc biệt trong phần "Early Years"