Người do thái được trang bị tận răng để tồn tại: Những người do thái Ashkenazi thông minh nhứt và / hoặc là người do thái giàu nhứt thì được trang bị tốt hơn để chạy trốn khỏi những vụ Inquisitions, pogroms, persecutions, holocausts, và những vụ khác bởi vì họ có thể:
1- có đủ khả năng tài chính và tiền bạc để di cư sang nơi khác sống,
2- có đầu óc nhạy bén để dự đoán trước những gì có thể xảy ra và chuẩn bị kế hoạch để đối phó,
3- biết nắm bắt các cơ hội của xã hội và kinh tế để chuồn khỏi quốc gia mà họ đang sinh sống.
Còn những người do thái Ashkenazi nghèo khó hơn, ít có quan hệ xã hội, ít gian xảo, kém tinh ranh, không lanh lợi thì làm nạn nhân.
Việc bị hủy diệt, bị trục xuất và những cuộc chạy trốn của người Do Thái là quá nổi tiếng. Chuyến lưu vong đầu tiên là tới Babylon. Cuộc lưu vong thứ hai là các chuỗi sự kiện chạy nạn ra khỏi quốc gia Israel sau sự thật bại của cuộc nổi dậy chống lại Đế quốc La Mã của người do thái từ năm 70 đến năm 135.
Vào năm 629, Vua Dagobert của người Frank ra lệnh người do thái phải cải đạo, cút xéo khỏi đất nước của ông, hoặc là bị hành quyết. Cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất, năm 1096-1099, giết hại hàng ngàn người do thái Ashkenazi, ước tính khoảng 25% người do thái. Người Do Thái bị trục xuất khỏi nước Anh vào năm 1290, Pháp năm 1394, và các phần lãnh thổ của nước Đức trong thế kỷ 15. Các vụ Pogrom ở Đế quốc Nga thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã giết chết một số lượng lớn người Do Thái, và Holocaust, được xúi giục bởi Adolf Hitler, đã dẫn đến nạn diệt chủng khoảng sáu triệu người do thái, chủ yếu là người do thái Ashkenazi.
Bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào bắt đầu sự bức hại, thì người Do Thái có xu hướng chạy trốn nếu họ có thể trả đủ tiền, hoặc giàu có để có ngựa, xe ngựa, nhân viên làm vệ sĩ hộ tống, có người thân giàu có để được giúp đỡ chạy trốn và bạn bè có địa vị xã hội cao. Chỉ số thông minh IQ cao thường có tương quan với thành công kinh tế.
Sunday, June 13, 2021
Hoàn cảnh đưa đẩy bắt buộc người do thái Thông Minh để tồn tại
Hoàn cảnh đưa đẩy bắt buộc người do thái Thông Minh để tồn tại: Người Do Thái ở Châu Âu đã chính thức bị loại khỏi những ngành nghề phổ biến như ngành nông nghiệp từ năm 800-1700 trước công nguyên. Thật vậy, người do thái thường không được phép sở hữu đất đai. Những hạn chế áp đặt này bắt buộc người do thái Ashkenazi tập trung vào 900 năm trong những ngành nghề thành thị để đáp ứng nhu cầu của xã hội, những ngành nghệ thành thị đó như là buôn bán trao đổi hàng hóa, kế toán, thương mại, bán hàng và đầu tư. Các tín đồ Thiên chúa giáo thường xuyên bị cấm đoán trong việc cho vay tiền lấy lãi - nghề bị cấm là cho vay lấy lãi này thì người Do Thái được phép làm và điều này đã hỗ trợ mở ra các nghề ngân hàng tài chính cho người Do Thái. Các tài liệu lịch sử cho thấy 80% người Do Thái ở Roussilon, miền Nam nước Pháp, năm 1270 là những người cho vay tiền.
Sau đó, sau khi người do thái bị trục xuất khỏi Tây Âu, thì người do thái Ashkenazi được chào đón ở xứ sở Ba Lan trong vai trò là các nhà đầu tư đô thị và những người dẫn đầu trong thương mại tài chính là những người có thể giúp hiện đại hóa quốc gia. Người do thái cũng phải đáp ứng các nhu cầu lớn trong các vị trí quản lý trung gian vì người do thái có kỹ năng quản trị kinh doanh và toán học.
Còn những người do thái Ashkenazi mà không giỏi toán học và khả năng ngôn ngữ kém cỏi không đủ để thành công trong những công việc “white collar” ( tạm dịch là cổ áo trắng có nghĩa là nhân viên văn phòng làm những nghề như luật sư, bác sĩ, kế toán ... ) thì những người do thái đó trôi dạt ra khỏi Do Thái giáo, những người do thái chỉ số Iq Thấp thì bị cho ra rìa. Ngược lại, những thương gia người do thái thành công nhất và những người kế toán giỏi tính toán với những con số thì kiếm được tiền để nuôi những cái miệng ăn trong gia đình đông đúc của họ, và cuối cùng thì họ để lại di sản là gien di truyền cho con cháu với kết quả là tăng tỷ lệ cao những bộ não giỏi toán đại số.
Sau đó, sau khi người do thái bị trục xuất khỏi Tây Âu, thì người do thái Ashkenazi được chào đón ở xứ sở Ba Lan trong vai trò là các nhà đầu tư đô thị và những người dẫn đầu trong thương mại tài chính là những người có thể giúp hiện đại hóa quốc gia. Người do thái cũng phải đáp ứng các nhu cầu lớn trong các vị trí quản lý trung gian vì người do thái có kỹ năng quản trị kinh doanh và toán học.
Còn những người do thái Ashkenazi mà không giỏi toán học và khả năng ngôn ngữ kém cỏi không đủ để thành công trong những công việc “white collar” ( tạm dịch là cổ áo trắng có nghĩa là nhân viên văn phòng làm những nghề như luật sư, bác sĩ, kế toán ... ) thì những người do thái đó trôi dạt ra khỏi Do Thái giáo, những người do thái chỉ số Iq Thấp thì bị cho ra rìa. Ngược lại, những thương gia người do thái thành công nhất và những người kế toán giỏi tính toán với những con số thì kiếm được tiền để nuôi những cái miệng ăn trong gia đình đông đúc của họ, và cuối cùng thì họ để lại di sản là gien di truyền cho con cháu với kết quả là tăng tỷ lệ cao những bộ não giỏi toán đại số.
Ngôn ngữ của Con Buôn người Do Thái
Ngôn ngữ của Con Buôn người Do Thái: Những thương gia người do thái Ashkenazi đi buôn bán tại những khu vực rộng lớn, ban đầu người do thái Ashkenazi đến những vùng đất Hồi Giáo, và sau này thì người do thái Ashkenazi đi buôn bán khắp mọi nơi trên thế giới - từ cao su ở Brazil cho đến con đường tơ lụa ở Trung Hoa. Để làm ăn phát đạt giàu có thì người do thái Ashkenazi phải ghi nhớ được nhiều ngôn ngữ của người nước ngoài. Bộ tộc người do thái vô quốc tịch này cần phải tùy cơ ứng biến ăn nói lưu loát trôi chảy nhiều ngoại ngữ, để giao tiếp với những hàng xóm tại các vùng đất mà họ di cư đến mà nói những ngôn ngữ như tiếng Đức, tiếng Ba Lan, tiếng Latvia, tiếng Lithuania, tiếng Hungary, tiếng Nga, tiếng Ukraina, tiếng Pháp, tiếng Hà Lan ...
Người do thái Ashkenazi đã chế tạo ra một ngôn ngữ thập cẩm là tiếng Yiddish. Ngôn ngữ Yiddish là một cái nồi lẩu thập cẩm với các nguyên liệu là tiếng Đức, tiếng Hebrew, tiếng Aramaic, và các gia vị của các ngôn ngữ hệ Slavic và phụ gia của các tiếng hệ Romance. Đỉnh cao của tiếng Yiddish - trước Đệ nhị thế chiến - tiếng Yiddish được 13 triệu người do thái sử dụng. Ngôn ngữ đa dạng này đã tạo ra một nền văn hoá mẫu mực trong văn học, sân khấu và phim ảnh.
Ngày nay thì các nhà thần kinh học công nhận rằng việc học nhiều ngôn ngữ làm tăng trí nhớ, sự linh hoạt về trí óc, khả năng giải quyết vấn đề, tư duy trừu tượng và sáng tạo các công thức giả thuyết. Về những giải thích của những lợi ích học nhiều ngoại ngữ; Tôi khuyên bạn nên nghe video, Bilingualism Will Supercharge Your Baby’s Brain.
Người do thái Ashkenazi đã chế tạo ra một ngôn ngữ thập cẩm là tiếng Yiddish. Ngôn ngữ Yiddish là một cái nồi lẩu thập cẩm với các nguyên liệu là tiếng Đức, tiếng Hebrew, tiếng Aramaic, và các gia vị của các ngôn ngữ hệ Slavic và phụ gia của các tiếng hệ Romance. Đỉnh cao của tiếng Yiddish - trước Đệ nhị thế chiến - tiếng Yiddish được 13 triệu người do thái sử dụng. Ngôn ngữ đa dạng này đã tạo ra một nền văn hoá mẫu mực trong văn học, sân khấu và phim ảnh.
Ngày nay thì các nhà thần kinh học công nhận rằng việc học nhiều ngôn ngữ làm tăng trí nhớ, sự linh hoạt về trí óc, khả năng giải quyết vấn đề, tư duy trừu tượng và sáng tạo các công thức giả thuyết. Về những giải thích của những lợi ích học nhiều ngoại ngữ; Tôi khuyên bạn nên nghe video, Bilingualism Will Supercharge Your Baby’s Brain.
Người Do Thái cưới hỏi kết hôn và sinh đẻ cho những Bộ Não
Người Do Thái cưới hỏi kết hôn và sinh đẻ cho những Bộ Não
Các ông sư phụ của chúng ta dạy rằng, là đấng nam nhi hãy bán tất cả tài sản gia tài của mình để cưới được con gái của người đàn ông có học thức. Nếu anh ấy không tài nào mà tìm được con gái của người đàn ông có học vấn, hãy để anh ấy cưới con gái của một trong những người đàn ông vĩ đại trong thời đại anh ấy đang sinh sống. Nếu anh ấy không cách nào mà tìm được, hãy để anh ấy cưới con gái của một trong những người đàn ông đứng đầu của giáo đoàn, hoặc nếu thật bại, thì hãy lấy con gái của người quyên góp tiền từ thiện, hoặc ngay cả con gái của thầy hiệu trưởng; nhưng KHÔNG để anh ấy lấy con gái của người thất học, vì sự thất học sự vô học là một điều ghê tởm, cũng tương tự như những bà vợ và các cô con gái của nó. P’sachim, fol. 49, col. 2.
Các văn bản Do Thái cũng tương tự như một trong những điều trên nhấn mạnh nhiều lần rằng kiến thức và trí tuệ là những đức tính tối thượng, with ignorance the grossest liability. Theo châm ngôn này, người Do Thái đã nâng cấp nguồn gen di truyền cho sự thông minh. Trong cuốn Lịch sử người Do thái, tác giả Paul Johnson lưu ý rằng, giữa những người Do Thái thì những người thông minh nhất luôn có giá trị cao và được mai mối để lấy chồng, do đó họ sinh sản và truyền những gen tốt của họ. Charles Murray quan sát một xu hướng mai mối khác, khi ông ghi nhận rằng, bằng cách kết hôn con cái của các vị học giả với con cái của những thương gia thành công, người do thái đã ở trong một hiệu ứng là kết hợp hai đặc điểm trời phú là khả năng lý luận trừu tượng và trí thông minh thực dụng thiết thực.
Trong khi đó, người Công giáo kết hôn vì những lý do "tầng lớp xã hội", tìm kiếm những lợi ích quý tộc của dòng máu xanh mà không liên quan đến trí tuệ. Sức mạnh thể xác và sự dũng cảm cũng là những đặc điểm được mong muốn, thông qua các hiệp sĩ dũng cảm trên chiến trường - sự yêu thích brawn over brains ( tạm dịch là: Cơ bắp hơn bộ não ) cũng không làm tăng chỉ số thông minh IQ tập thể của các thành viên trong tôn giáo đó.
Các ông sư phụ của chúng ta dạy rằng, là đấng nam nhi hãy bán tất cả tài sản gia tài của mình để cưới được con gái của người đàn ông có học thức. Nếu anh ấy không tài nào mà tìm được con gái của người đàn ông có học vấn, hãy để anh ấy cưới con gái của một trong những người đàn ông vĩ đại trong thời đại anh ấy đang sinh sống. Nếu anh ấy không cách nào mà tìm được, hãy để anh ấy cưới con gái của một trong những người đàn ông đứng đầu của giáo đoàn, hoặc nếu thật bại, thì hãy lấy con gái của người quyên góp tiền từ thiện, hoặc ngay cả con gái của thầy hiệu trưởng; nhưng KHÔNG để anh ấy lấy con gái của người thất học, vì sự thất học sự vô học là một điều ghê tởm, cũng tương tự như những bà vợ và các cô con gái của nó. P’sachim, fol. 49, col. 2.
Các văn bản Do Thái cũng tương tự như một trong những điều trên nhấn mạnh nhiều lần rằng kiến thức và trí tuệ là những đức tính tối thượng, with ignorance the grossest liability. Theo châm ngôn này, người Do Thái đã nâng cấp nguồn gen di truyền cho sự thông minh. Trong cuốn Lịch sử người Do thái, tác giả Paul Johnson lưu ý rằng, giữa những người Do Thái thì những người thông minh nhất luôn có giá trị cao và được mai mối để lấy chồng, do đó họ sinh sản và truyền những gen tốt của họ. Charles Murray quan sát một xu hướng mai mối khác, khi ông ghi nhận rằng, bằng cách kết hôn con cái của các vị học giả với con cái của những thương gia thành công, người do thái đã ở trong một hiệu ứng là kết hợp hai đặc điểm trời phú là khả năng lý luận trừu tượng và trí thông minh thực dụng thiết thực.
Trong khi đó, người Công giáo kết hôn vì những lý do "tầng lớp xã hội", tìm kiếm những lợi ích quý tộc của dòng máu xanh mà không liên quan đến trí tuệ. Sức mạnh thể xác và sự dũng cảm cũng là những đặc điểm được mong muốn, thông qua các hiệp sĩ dũng cảm trên chiến trường - sự yêu thích brawn over brains ( tạm dịch là: Cơ bắp hơn bộ não ) cũng không làm tăng chỉ số thông minh IQ tập thể của các thành viên trong tôn giáo đó.
Người Truyền Giống là những Giáo Sĩ Thông Minh:
Người Truyền Giống là những Giáo Sĩ Thông Minh: Sự khác biệt lớn giữa Công giáo và Do Thái giáo là các linh mục phải sống độc thân không kết hôn kể từ khi Hội đồng Carthage thế kỷ 4 đã ra phán quyết rằng các vị linh mục không tham gia vào cuộc sống hôn nhân gia đình, ngược lại thì những ông thầy rabbi hay giáo sĩ người do thái thì được khuyến kích lấy vợ và sinh đẻ thật nhiều con cái hay con đàn cháu đống. Vào thời Trung Cổ, kết quả là sự thiếu hụt trầm trọng những người có chỉ số thông minh IQ Cao trong dân số Công giáo, bởi vì các bé trai thông minh sáng sủa nhất, có năng khiếu học vấn cao thì thường bị nhốt trong các chủng viện và điều này đã làm lãng phí nguồn gene di truyền của họ. Trong khi đó thì ... các nhà hiền triết, các ông thầy và các học giả người Do Thái đã kết hôn với những người phụ nữ thông minh và tạo ra những gia đình lớn, và những gia đình thông minh. Tam cuốn sách khảo sát hiện tượng này là Robert Novick’s Anarchy, State and Utopia, Ernst Vandenberg’s The Jewish Mystique, và Paul Johnson’s A History of the Jews.
Tư tưởng biện chứng và tư duy hợp lý của người Do Thái
Tư tưởng biện chứng và tư duy hợp lý của người Do Thái: Tiến sĩ Sam Lehman-Wilzig cho tui biết rằng một trong những cách tiếp cận đáng chú ý đối với cách học tập của người Do Thái là biện chứng. Kinh Thư Talmud không phải là Luật Pháp mà thay vào đó là một bản tóm tắt khổng lồ của những cuộc tranh luận. Người Do Thái được khuyến khích để xem xét các quan điểm và những góc nhìn khác nhau của một vấn đề, và người do thái đã được dạy là phải đặt câu hỏi cho tất cả mọi thứ, bao gồm cả Luật Pháp, tư duy Logic của thầy giáo, và hệ thống niềm tin của chính bản thân mình. Các ông thầy Rabbi đã phát triển các nguyên tắc tranh luận, toàn bộ hệ thống đặt câu hỏi mà người Do Thái đã sử dụng trong 2.000 năm trong các cuộc đấu khẩu trong hai lãnh vực là tôn giáo và thế tục.
Biện chứng không phải là một phát minh của người do thái: Biện chứng thực ra là một bí kíp học hỏi mà người Do Thái đã vay mượn từ người Hy Lạp và triết học Hi Lạp. Sự kết hợp này là phương pháp luận Socrates Do Thái. Những dấu vết về sự ảnh hưởng của nền văn minh Hy Lạp hiển nhiên được thấy trong bữa ăn nhậu vào ngày Lễ Vượt Qua nơi mà người cha Do Thái nằm trên gối ( tương tự như người Hy Lạp ) trong khi nhi đồng Do Thái trẻ tuổi nhất đặt Tứ Câu Hỏi. Phương pháp học này là rất độc đáo trong thời Trung Cổ, so với các truyền thống "có thẩm quyền" của Công giáo Châu Âu.
Tiến sĩ Sanford Aranoff, Giáo sư Khoa học và Toán học tại Đại học Rider, đã chuyển tải cho tôi một thông điệp tương tự. Theo quan điểm của ông, Do thái giáo dựa trên các nguyên lý của tư duy hợp lý. ( Tư duy hợp lý bắt đầu với các nguyên tắc đã được nêu rõ, tiếp tục với các khoản khấu trừ hợp lý, và sau đó xem xét bằng chứng thực nghiệm để có thể sửa đổi các nguyên tắc )
Các kỹ năng phân tích, các tuyệt chiêu chiến lược được phát triển trong cả hai tư duy biện chứng và tư duy phản biện của người Do Thái là một thành phần quan trọng của các bài kiểm tra chỉ số thông minh IQ, và cũng rất là cần thiết trong những nghề nghiệp về pháp luật, hàn lâm, khoa học và công nghệ kỹ thuật.
Biện chứng không phải là một phát minh của người do thái: Biện chứng thực ra là một bí kíp học hỏi mà người Do Thái đã vay mượn từ người Hy Lạp và triết học Hi Lạp. Sự kết hợp này là phương pháp luận Socrates Do Thái. Những dấu vết về sự ảnh hưởng của nền văn minh Hy Lạp hiển nhiên được thấy trong bữa ăn nhậu vào ngày Lễ Vượt Qua nơi mà người cha Do Thái nằm trên gối ( tương tự như người Hy Lạp ) trong khi nhi đồng Do Thái trẻ tuổi nhất đặt Tứ Câu Hỏi. Phương pháp học này là rất độc đáo trong thời Trung Cổ, so với các truyền thống "có thẩm quyền" của Công giáo Châu Âu.
Tiến sĩ Sanford Aranoff, Giáo sư Khoa học và Toán học tại Đại học Rider, đã chuyển tải cho tôi một thông điệp tương tự. Theo quan điểm của ông, Do thái giáo dựa trên các nguyên lý của tư duy hợp lý. ( Tư duy hợp lý bắt đầu với các nguyên tắc đã được nêu rõ, tiếp tục với các khoản khấu trừ hợp lý, và sau đó xem xét bằng chứng thực nghiệm để có thể sửa đổi các nguyên tắc )
Các kỹ năng phân tích, các tuyệt chiêu chiến lược được phát triển trong cả hai tư duy biện chứng và tư duy phản biện của người Do Thái là một thành phần quan trọng của các bài kiểm tra chỉ số thông minh IQ, và cũng rất là cần thiết trong những nghề nghiệp về pháp luật, hàn lâm, khoa học và công nghệ kỹ thuật.
người Do Thái là một trong những dân tộc được đô thị hóa lâu đời nhất thế giới
Sự đô thị hóa: Vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên thì 80-90% người do thái là nông dân. Cho đến năm 1000 trước công nguyên thì chỉ còn 10-20% người do thái làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Sắc lệnh cải cách giáo dục của Joshua ben Gamla đã trao các kỹ năng ngôn ngữ và toán học cho các cậu bé Do Thái, tạo điều kiện thuận lợi cho họ thoát khỏi cuộc sống vùng nông thôn với lối sống tự cung tự cấp và di chuyển đền vùng thành thị làm những ngành nghề yêu cầu trình độ học vấn cao, liên quan đến bán hàng, giao dịch thương mại, kinh doanh và tài chính.
Di chuyển từ môi trường đồng quê sang các thành phố tăng chỉ số thông minh IQ, do sự phức tạp ngày càng tăng của việc đô thị hóa, sự biết chữ và công nghệ. Nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006 đã cho thấy sự khác biệt trong chỉ số thông minh IQ giữa sinh viên thành phố so với sinh viên vùng nông là 19,4 điểm. Một khảo sát năm 1970 ở Hy Lạp ghi nhận sự khác biệt là 10-13 điểm. Các nghiên cứu khác ghi nhận sự khác biệt nhỏ hơn chỉ có 2-6 điểm, nhưng nhất trì thì, người dân thành thị luôn đạt điểm cao hơn, và người Do Thái là một trong những dân tộc được đô thị hóa lâu đời nhất thế giới.
Subscribe to:
Posts (Atom)






